V. Cách Xưng Hô Các Tháng Trong Năm1
Nguyên văn:
正月、辰維寅月、節屆孟春、柳錠黃金、梅開白玉。
二月、辰維花月、節屆中和、鶯轉如簧、花開似錦。
三月、辰維梅月、節屆暮春、桃雨翻紅、萍星點綠。
四月、辰維麥月、節屆清和、槐蔭盈庭、荷香滿沼。
五月、辰維蒲月、節屆端陽、榴火舒丹、艾旗楊綠。
六月、辰維暑月、節屆元陽、子結蓮房、香留荔圃。
七月、辰維瓜月、節屆蘭秋、玉宇生涼、金風蕩暑。
八月、辰維桂月、節屆中秋、桂影扶疏、蟾光皎潔。
九月、辰維菊月、節屆重陽、籬菊飄香、江楓簇錦。
十月、辰維陽月、節屆孟冬、一線添長、三陽復始。
十一月、辰維葭月、節屆仲冬、雪點寒梅、葭飛玉管。
十二月、辰維臘月、節屆季冬、竹葉浮杯、梅花映席。
黃鐘子月律初分、大呂年終太簇寅、二月夾鐘三姑洗、四當仲呂五蕤賓、自從六月林鐘節、夷則還歸七月陳、南呂八居無射九、應鐘十月轉風雲。
竹林懶衲通抄。
Phiên âm:
Chánh nguyệt:2 Thần duy Dần Nguyệt, tiết giới Mạnh Xuân,3 liểu đĩnh hoàng kim, mai khai bạch ngọc.
Nhị nguyệt:4 Thần duy Hoa Nguyệt, tiết giới Trung Hòa, oanh chuyển như hoàng, hoa khai tợ cẩm.
Tam nguyệt:5 Thần duy Mai Nguyệt,6 tiết giới Mộ Xuân,7 đào vũ phiên hồng, bình tinh điểm lục.
Tứ nguyệt:8 Thần duy Mạch Nguyệt,9 tiết giới Thanh Hòa, hòe ấm dinh đình, hà hương mãn chiểu.
Ngũ nguyệt:10 Thần duy Bồ Nguyệt,11 tiết giới Đoan Dương,12 lựu hỏa13 thư đơn, ngải kỳ14 dương lục.
Lục nguyệt:15 Thần duy Thử Nguyệt,16 tiết giới Nguyên Dương, tử kết liên phòng,17 hương lưu lệ phố.
Thất nguyệt:18 Thần duy Qua Nguyệt,19 tiết giới Lan Thu, ngọc vũ sinh lương, kim phong đãng thử.
Bát nguyệt:20 Thần duy Quế Nguyệt,21 tiết giới Trung Thu,22 quế ảnh23 phù sơ, thiềm quang24 kiểu khiết.
Cửu nguyệt:25 Thần duy Cúc Nguyệt,26 tiết giới Trùng Dương,27 ly cúc phiêu hương, giang phong thốc cẩm.
Thập nguyệt:28 Thần duy Dương Nguyệt,29 tiết giới Mạnh Đông,30 nhứt tuyến thiêm trường, Tam Dương31 phục thỉ.
Thập nhất nguyệt:32 Thần duy Gia Nguyệt,33 tiết giới Trọng Đông,34 tuyết điểm hàn mai, gia phi ngọc quản.35
Thập nhị nguyệt:36 Thần duy Lạp Nguyệt,37 tiết giới Quí Đông,38 trúc diệp phù bôi,39 mai hoa ánh tịch.
Hoàng Chung40 Tý nguyệt41 luật sơ phân,
Đại Lữ42 niên chung Thái Thốc43 Dần,
Nhị nguyệt Giáp Chung44 tam Cô Tẩy,45
Tứ đương Trọng Lữ46 ngũ Nhuy Tân,47
Tự tùng lục nguyệt Lâm Chung48 tiết,
Di Tắc49 hoàn quy thất nguyệt trần,
Nam Lữ50 bát cư Vô Xạ51 cửu,
Ưng Chung52 thập nguyệt chuyển phong vân.
Trúc Lâm lãn nạp53 thông sao.
Dịch nghĩa:
Tháng Giêng: Thời vào tháng Dần, tiết thuộc Mạnh Xuân (đầu Xuân), Liễu dệt vàng ròng, Mai bày ngọc trắng.
Tháng Hai: Thời vào tháng Hoa, tiết thuộc Trung Hòa (giữa Xuân), oanh hót líu lo, hoa bày như gấm.
Tháng Ba: Thời vào tháng Mai, tiết thuộc Mộ Xuân (cuối Xuân), mưa Đào rực hồng, bèo trôi xanh lục.
Tháng Tư: Thời vào tháng Mạch, tiết thuộc Thanh Hòa (đầu Hạ), bóng Hòe mát đình, hương sen ngát hồ.
Tháng Năm: Thời vào tháng Bồ, tiết thuộc Đoan Dương (giữa Hạ), hoa Lựu đỏ hoe, ngải cờ màu lục.
Tháng Sáu: Thời vào tháng Thử, tiết thuộc Nguyên Dương (cuối Hạ), hạt kết sen đài, hương tràn vườn vải.
Tháng Bảy: Thời vào tháng Qua, tiết thuộc Lan Thu (đầu Thu), nhà ngọc mát tươi, gió vàng xua nóng.
Tháng Tám: Thời vào tháng Quế, tiết thuộc Trung Thu (giữa Thu), bóng quế um tùm, vầng trăng rực rỡ.
Tháng Chín: Thời vào tháng Cúc, tiết thuộc Trùng Dương (cuối Thu), cúc giậu thoảng hương, cây phong trổ gấm.
Tháng Mười: Thời vào tháng Dương, tiết thuộc Mạnh Đông (đầu Đông), bóng trời thêm dài, Tam Dương trở lại.
Tháng Mười Một: Thời vào tháng Gia, tiết thuộc Trọng Đông (giữa Đông), tuyết điểm cây Mai, tro bay sáo ngọc.
Tháng Mười Hai: Thời vào tháng Lạp, tiết thuộc Quý Đông (cuối Đông), lá trúc chén nỗi, hoa mai rực rỡ.
Hoàng Chung tháng Tý luật mới phân,
Đại Lữ cuối năm Thái Thốc Dần,
Tháng Hai Giáp Chung Ba Cô Tẩy
Bốn là Trọng Lữ Năm Nhuy Tân
Tiếp theo tháng Sáu Lâm Chung tiết,
Di Tắc lại về tháng Bảy gần,
Nam Lữ tháng Tám Vô Xạ Chín,
Ưng Chung Mười tháng chuyển phong vân.
Nạp tăng Chùa Trúc Lâm ghi trọn.
Chú thích:
- Thông thường, trong các lòng văn Sớ có đoạn ghi rõ thời gian thực hiện pháp sự như “Tư giả thần duy [mạnh, trọng, quý] nguyệt, tiết giới [Thu, Hạ, Đông, Xuân] thiên, diên khai [nhất, nhị, tam ...] trú chi đạo tràng, hương mãn thập phương chi thế giới (茲者辰維[孟、仲、貴]月、節屆[秋、夏、冬、春]天、筵開[一、二、三...]晝之道塲、香滿十方之世界, nay gặp lúc [đầu, giữa, cuối], thuộc tiết [Xuân, Hạ, Thu, Đông], kính thiết trai đàn trong [một, hai, ba, v.v.] ngày, hương tỏa mười phương thế giới).” Cho nên, cách gọi tên của từng tháng Âm Lịch trong năm như vậy làm cho văn chương của văn Sớ phong phú, hoa mỹ, sống động hơn thêm. Nội dung nầy cũng được tìm thấy trong tác phẩm Phật Môn Giản Lược Công Văn Thiện Bản (佛門簡略攻文善本, ghi Phật Lịch 2510, ngày mồng 8 tháng 2 năm Bính Ngọ [1966]) của cố Hòa Thượng Thích Tâm Giải (釋心解), nguyên trú trì Chùa Từ Quang (慈光寺), Thành phố Huế. Tuy nhiên, đặc biệt trong bản của Tổ Giác Tiên, sau phần cách gọi tên của 12 tháng, còn có một đoạn văn ngắn giới thiệu cách gọi tên từ tháng Giêng đến tháng Chạp (12), với những thuật ngữ lạ, ít thấy xuất hiện trong các bản Công Văn khác. Đây là một trong những nét nổi bật trong Bản Công Văn của Tổ Giác Tiên. Nhân đây, dịch giả cũng xin giới thiệu một số câu hay dùng cho 4 mùa Âm Lịch. Trong mùa Xuân, tháng Giêng được gọi là Mạnh Xuân (孟春), tháng 2 là Trọng Xuân (仲春) và tháng 3 là Quý Xuân (季春); thời lệnh của mùa Xuân gọi là Thanh Dương (青陽), Dương Tiết (陽節), Thương Linh (蒼靈), Tam Xuân (三春), Cửu Xuân (九春), Dương Xuân (陽春), Diễm Dương (豔陽), Thục Tiết (淑節), Thiều Tiết (韶節). Một số câu hay cho mùa Xuân như hàn ý do tồn (寒意猶存, ý lạnh vẫn còn), phong hòa thư nhãn (風和舒眠, gió khoan tầm mắt), hoa hồng tợ hỏa (花紅似火, hoa hồng tợ lửa), đường hoa tú dã (棠花繡野, hoa hải đường dệt đồng hoang), oanh thoa chức liễu (鶯梭織柳, oanh đưa dệt liễu), xuân sắc tranh nghiên (春色爭妍, sắc xuân tranh đẹp), nhật lệ đào thần (日麗桃唇, trời thắm môi đào), thủy như lục bàn (水如綠盤, nước như mâm xanh), vật hàm sanh ý (物含生意, muôn vật bao hàm sự sống). Trong mùa Hạ, tháng 4 là Mạnh Hạ (孟夏), tháng 5 là Trọng Hạ (仲夏), tháng 6 là Quý Hạ (季夏); thời lệnh của mùa Hạ gọi là Chu Minh (朱明), Viêm Tự (炎序), Thanh Hạ (清夏), Chu Hạ (朱夏), Trường Doanh (長贏), Tam Hạ (三夏), Cửu Hạ (九夏), Chủ Luật (主律). Một số câu hay cho mùa Hạ như nhật trì Xích Đạo (日馳赤道, mặt trời đuổi theo Xích Đạo), thúy hà chu trích (翠荷珠滴, sen biếc nhã giọt châu), hà hương dĩ động (荷香已動, hương sen lay động), lãnh tiêu khước thự (冷綃卻署, tơ lạnh giã từ ra đi), huân phong dạng liễu (熏風漾柳, gió xông liễu rũ), chu điểu ty thần (朱鳥司晨, chim đỏ làm chủ ban sớm), tử trúc phong xao (紫竹風敲, trúc tía lay động gió), mạch khí phương thanh (麥氣方清, hơi lúa trong lành), vũ phiến nghênh phong (羽扇迎風, quạt lông đón gió), hóa nhật thư trường (化日舒長, ngày thay đổi thong thả kéo dài). Trong mùa Thu, tháng 7 là Mạnh Thu (孟秋), tháng 8 là Trọng Thu (季秋), tháng 9 là Quý Thu (仲秋); thời lệnh của mùa Thu gọi là Tố Hao (素蒿), Bạch Tạng (白藏), Kim Ý (金意), Cao Thương (高商), Tiêu Trưởng (蕭長), Tố Tiết (素節), Thê Thần (淒辰), Tam Thu (三秋), Cửu Thu (九秋), Tam Tiết (三節). Một số câu hay cho mùa Thu như thiềm cung dạng thái (蟾宮漾彩, cung trăng lấp lánh), lục ty dương liễu(綠絲楊柳, dương liễu tơ xanh), kim hành lộ lãnh (金莖露冷, sương đọng se lạnh), nhạn hoành yên chử (雁橫湮渚, nhạn liệng cồn song phủ mờ), phong luật kinh thu (風律警秋, gió chuyển kinh động mùa Thu), ngọc vũ thanh trừng (玉宇清澄, nhà ngọc mát trong), hồng lãnh phù dung (紅冷芙蓉), ngọc vũ phong cao (玉宇風高, nhà ngọc gió lộng), mộc lạc sương châu (木落霜州, cây đỗ trên đất sương), nhật tiệm bắc duy (日漸北維, mặt trời dần dần về phương Bắc), v.v. Trong mùa Đông, tháng 10 là Mạnh Đông (孟冬), tháng 11 là Trọng Đông (仲冬), tháng Chạp là Quý Đông (季冬); thời lệnh của mùa Đông gọi là Nguyên Anh (元英), Thanh Đông (清冬), Tuế Dư (歲餘), Nguyên Tự (元序), Hàn Thần (寒辰), Nghiêm Tiết (嚴節), An Ninh (安寧), Tam Đông (三冬), Cửu Đông (九冬). Một số câu hay cho mùa Đông như sơ hàn tại hậu (初寒在候, khí hậu mới lạnh), liễu khách đãi lạp (柳客待臘, khách liễu chờ cuối năm), ly cúc phiêu hương (籬菊飄香, giậu cúc thoảng hương thơm), phong phiêu tuyết khởi (風飄雪起, gió bay tuyết dậy), hồng đầu tuyết chử (鴻投雪渚, nhạn lao xuống bãi tuyết), thanh phiêu túc vật (清飄肅物, nhẹ nhàng chấn chỉnh muôn vật), Nguyên Võ đồng thần (元武同晨, Huyền Võ cùng ban mai), mai ý hàm hàn (梅意銜寒, hoa mai ngậm rét buốc), nham tông tỏa thúy (岩鬆鎖翠, núi cao mù mịt che lấp màu xanh), hà đới băng lưu (河帶冰流, sông mang băng trôi), ái nhật lệ thiên (愛日麗天, ngày xinh trời đẹp), tước tập băng diêm (雀集冰簷, chim sẻ tập trung trên mái nhà phủ băng).
- Tháng Giêng Âm Lịch có tên gọi khác như Nguyệt Chánh (月正), Tân Chánh (新正), Mạnh Xuân (孟春), Thủ Xuân (首春), Thượng Xuân (上春), Dần Mạnh Xuân (寅孟春), Thỉ Xuân (始春), Tảo Xuân (早春), Nguyên Xuân (元春), Tân Xuân (新春), Sơ Xuân (初春), Đoan Xuân (端春), Triệu Xuân (肇春), Hiến Xuân (獻春), Xuân Vương (春王), Hoa Tuế (華歲), Tuế Tuế (歲歲), Triệu Tuế (肇歲), Khai Tuế (開歲), Hiến Tuế (獻歲), Phương Tuế (芳歲), Sơ Tuế (初歲), Sơ Nguyệt (初月), Sơ Dương (初陽), Mạnh Dương (孟陽), Tân Dương (新陽), Xuân Dương (春陽), Xuân Vương (春王), Thái Thốc (太簇), Tuế Thỉ (歲始), Vương Chánh Nguyệt (王正月), Sơ Không Nguyệt (初空月), Hà Sơ Nguyệt (霞初月), Sơ Xuân Nguyệt (初春月), Tưu Nguyệt (陬月), Vương Nguyệt (王月), Đoan Nguyệt (端月), Mạnh Tưu (孟陬), Thái Nguyệt (泰月), Cẩn Nguyệt (謹月), Kiến Dần (建寅), Dần Nguyệt (寅月), Dương Nguyệt (楊月), Mạnh Xuân Nguyệt (孟春月), Tam Vi Nguyệt (三微月), Tam Chánh (三正), Mục Nguyệt (睦月), Thượng Nguyệt (上月), Tam Chi Nhật (三之日), Nguyên Dương (元陽). Một số câu hay cho tháng Giêng như Tam Dương sơ trưởng (三陽初長, tháng Giêng mới lớn), Tứ Tự cánh đoan (四序更端, bốn mùa trở lại đầu), mai đôi bạch ngọc (梅堆白玉, mai chất đầy ngọc trắng [tuyết]), liễu đĩnh hoàng kim (柳錠黃金, liễu trĩu nặng vàng ròng), tiêu hoa tống lạp (椒花送臘, hoa tiêu tiễn năm cũ đi), canh điểu sơ minh (庚鳥初鳴, chim Vàng Anh bắt đầu hót), Ngọc Luật hồi phù (玉律回夫, nhạc khí Ngọc Luật trở về chăng), duệ Ki tiễn lạp (睿璣餞臘, sao Ki sáng tiễn năm cũ), tiêu chuyển Bắc Đẩu (杓轉北鬥, chuôi sao chuyển Bắc Đẩu), nhân tại Đông phong (人在東風, người nơi gió Đông), nhất thanh trừ cựu (一聲除舊, một tiếng vang trừ năm cũ), vạn hộ cánh tân (萬戶更新, ngàn nhà lại mới mẻ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như mai tai lệ phấn (梅腮淚粉, mặt hoa mai đầy phấn lệ), liễu nhãn bi thanh (柳眼悲青, mắt liễu buồn trong xanh). Ngữ cú dành cho Thượng Nguyên như cửu thiên nguyệt lãng (九天月朗, chín tầng trời trăng sáng rực), vạn hộ đăng huy (萬戶燈輝, vạn nhà đèn tỏ rạng). Một số từ dùng cho lập xuân như Đông phong giải đống (東風解凍, gió Đông làm tan băng), Bắc Đẩu hồi chước (北斗回杓, chùm Bắc Đẩu trở về đuôi).
- Mạnh Xuân (孟春): tên gọi của tháng đầu tiên của mùa Xuân, tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong bài Đại Đường Thượng Ca Hành (代堂上歌行) của Bào Chiếu (鮑照, 414-466) nhà Tống có câu: “Dương xuân Mạnh Xuân nguyệt, triêu quang tán lưu hà (陽春孟春月、朝光散流霞, đầu xuân tháng Giêng tiết, sáng sớm rực ráng hồng).” Hay trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 61 có đoạn: “Mạnh Xuân do hàn đệ nhất nguyệt, Trọng Xuân tiệm noãn đệ nhị nguyệt, nhược vô nhàn sự quải tâm đầu, tiện thị nhân gian hảo thời tiết (孟春猶寒第一月、仲春漸暖第二月、若無閒事挂心頭、便是人間好時節, đầu Xuân còn lạnh tháng thứ nhất, giữa Xuân dần ấm tháng thứ hai, nếu chẳng có việc nhàn rỗi nào mang trong tâm, ấy chính là thời tiết tốt của con người).”
- Tháng Hai Âm Lịch có tên gọi khác như Như Nguyệt (如月), Mai Kiến Nguyệt (梅見月), Mai Nguyệt (梅月), Lệ Nguyệt (麗月), Mão Nguyệt (卯月), Hạnh Nguyệt (杏月), Hàm Nguyệt (酣月), Lệnh Nguyệt (令月), Khiêu Nguyệt (跳月), Tiểu Thảo Sanh Nguyệt (小草生月), Y Cánh Trước Giáp Chung (衣更著夾鐘), Trọng Chung (仲鐘), Trọng Xuân (仲春), Trọng Dương (仲陽), Trung Hòa Nguyệt (中和月), Tứ Dương Nguyệt (四陽月), Xuân Trung (春中), Hôn Nguyệt (婚月), Môi Nguyệt (媒月), Đại Tráng (大壯), Trúc Thu (竹秋), Hoa Triêu (花朝), Hoa Nguyệt (花月), Tứ Chi Nguyệt (四之月). Một số câu hay cho tháng Hai như Hải Đường tẩm nguyệt (海棠浸月, hoa Hải Đường ngấm trăng), Dương Liễu lung yên (楊柳籠煙, cây Dương Liễu nhốt khói), liễu khê tiếu bích (柳溪醮碧, khe liễu cúng màu xanh biếc), hoa ổ phi hồng (花塢飛紅, ụ hoa phất phơ màu hồng), oanh ca hoa tự (鶯歌花序, oanh ca đầu hoa), yến tiễn xuân phong (燕剪春風, chim Yến xé gió Xuân), hoa vũ lộng tình(花雨弄晴, mưa hoa đùa giỡn với trời tạnh), thời cánh thường hoa (時竟嚐花, đến lúc lại thưởng thức hoa), dã điểu hổ xuân (野鳥唬春, chim rừng dọa nạt mùa Xuân), ngạn hoa khấp hiểu (岸花泣曉, hoa bên bờ khóc lúc hừng sáng), Đỗ ông hành vũ (杜翁行雨, ông lão họ Đỗ đi trong mưa), hoa tín xuy phong (花信吹風, tin tức hoa nở thổi gió bay). Một số từ dùng cho gió Xuân như Tam Xuân tiền bán (三春前半, một nửa trước của ba tháng mùa Xuân), bách khắc bình phân (百刻平分, trăm khắc phân rõ). Các từ dùng cho tháng Hai nhuận như Trọng Xuân kỷ nhuận (仲春紀閏, Trọng Xuân gặp nhuận), tích vũ lưu hàn (積雨留寒, chứa mưa giữ lại cái lạnh), tự hoa thời lạc (序花時落, hoa tuần tự rơi rụng đúng lúc), dã điểu tranh minh (野鳥爭鳴, chim rừng tranh nhau hót).
- Tháng Ba Âm Lịch có tên gọi khác như Mộ Xuân (暮春), Mạt Xuân (末春), Quý Xuân (季春), Vãn Xuân (晚春), Diểu Xuân (杪春), Khiết Xuân (褉春), Tàm Nguyệt (蠶月), Hoa Nguyệt (花月), Đồng Nguyệt (桐月), Đào Nguyệt (桃月), Quái Nguyệt (夬月), Gia Nguyệt (嘉月), Thần Nguyệt (辰月), Đạo Nguyệt (稻月), Anh Duẩn Nguyệt (櫻筍月), Cô Tẩy (姑洗), Đào Lãng (桃浪), Vu Phong (雩風), Ngũ Dương Nguyệt (五陽月), Đào Quý Nguyệt (桃季月), Hoa Phi Nguyệt (花飛月), Tiểu Thanh Minh (小清明), Trúc Thu (竹秋), Phu Nguyệt (夫月), Mộ Nguyệt (暮月), Thần Nguyệt (辰月), Oa Nguyệt (窩月), Tú Nguyệt (宿月), Thương Nguyệt (商月), Anh Nguyệt (莫月), Linh Nguyệt (靈月), Vân Nguyệt (雲月). Một số câu hay cho tháng Ba như phụng tình hoa tín(鳳情花信, phụng quyến luyến tin tức hoa nở), vũ trạc xuân trần (雨濯春塵, mưa tẩy sạch bụi Xuân), bình tinh điểm lục (萍星點綠, bèo trôi điểm màu xanh), đào vũ phiên hồng (桃雨翻紅, mưa Đào phất phơ màu hồng), tuế hàn linh tiết (歲寒令節, năm rét tiết khó), cấm hỏa lương thần (禁火良辰, cấm lửa dịp tốt). Một số từ dùng cho Tiết Thanh Minh như liễu yên ngưng thoại (柳煙凝瑞, khói liễu đọng điềm lành), lan bội nghênh hy (蘭佩迎禧,ngọc đeo đón điều tốt), xuân thâm bích hải (春深碧海, Xuân sâu thẳm như biển xanh), hoa mãn thiên trì (花滿天池, hoa đầy khắp hồ Trời), phong hoa chánh tú (風花正秀, hoa gió rực rỡ), đồng quan du xuân (童冠遊春, trẻ đội mũ đi chơi Xuân), Lê hoa lạc viện (梨花落院, hoa Lê rơi rụng nơi tòa viện), liễu nhứ phi tường (柳絮飛牆,tơ liễu bay qua tường). Các từ dùng cho tháng Ba nhuận như Tam Xuân nghi cửu (三春宜久, ba tháng mùa Xuân vẫn còn lâu), nhuận quy trừ tận (潤歸除盡, ẩm ướt về dứt sạch). Từ ngữ dùng cho truy điệu vào tháng nầy là oanh đề hoa lão (鶯啼花老, oanh khóc hoa già cỗi), điệp trướng xuân tàn (蝶悵春殘, bướm buồn Xuân tàn tạ).
- Mai Nguyệt (梅月): chỉ cho tháng 4 Âm Lịch, và cũng chỉ chung cho thời tiết Mai Vũ (梅雨). Như trong bài thơ Ký Vương Địch (寄王滌) của Quán Hưu (貫休, 832-912) có câu: “Mai Nguyệt đa khai hộ, y thường nhuận dục trích, tịch liêu tuy vô hình, bất thị tiểu thù địch (梅月多開戶、衣裳潤欲滴、寂寥雖無形、不是小讎敵, tháng Tư cửa bày mở, áo quần ướt đẩm giọt, vắng vẻ chẳng bóng hình, chẳng phải nào thù địch).” Hay như trong bài thơ Tàng Mặc Quyết (藏墨訣) của Lý Đình Khuê (李廷珪, ?-?) nhà Nam Đường lại có câu: “Tị thử huyền cát nang, lâm phong độ mai nguyệt (避暑懸葛囊、臨風度梅月, tránh nóng treo túi dây, gặp gió qua tháng Tư).” Trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) quyển Hạ có đoạn: “Dữ Mai Nguyệt tùng phong, kết tận đa thiểu khẩu nghiệp, thử nghiệp thâm hậu, bất tự giác tri (與梅月松風、結盡多少口業、此業深厚、不自覺知, cùng gió tùng tháng Tư, kết tận ít nhiều khẩu nghiệp, nghiệp nầy sâu dày, chẳng tự biết được).” Như vậy, Mai Nguyệt là tên gọi khác của tháng Tư Âm Lịch; nhưng ở đây từ nầy lại dùng cho tháng Ba. Trong khi đó, bản Phật Môn Giản Lược Công Văn Thiện Bản của cố Hòa Thượng Thích Tâm Giải thì gọi tháng Ba là “Lan Nguyệt (蘭月)” trong câu: “Thần duy Lan Nguyệt, tiết giới Mộ Xuân (辰維蘭月、節屆暮春).”
- Mộ Xuân (暮春): cuối Xuân, chấm dứt mùa Xuân. Như trong Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法, Taishō Vol. 19, No. 928) có đoạn: “Nhất Phật xử thai nhật, hệ Kỷ Mùi Trọng Hạ thập ngũ nhật; nhị Phật giáng sanh nhật, hệ Canh Dần tứ nguyệt thất nhật; tam Phật xuất gia nhật, hệ Mậu Tý Mộ Xuân bát nhật; tứ Phật thành đạo nhật, hệ Giáp Ngọ tứ nguyệt thập ngũ nhật; ngũ Phật ư Lộc Uyển chuyển Tứ Đế Pháp Luân nhật, hệ thành đạo bổn niên Quý Hạ lục nguyệt tứ nhật; lục Phật tùng Đao Lợi Thiên hạ hoàn nhật, hệ Canh Tý Trọng Thu nhị thập nhị nhật; thất Phật bát Niết Bàn nhật, hệ Canh Thìn tứ nguyệt thập ngũ nhật (一佛處胎日、係己未仲夏十五日、二佛降生日、係庚申四月七日、三佛出家日、係戊子暮春八日、四佛成道日、係甲午四月十五日、五佛於鹿苑轉四諦法輪日、係成道本年季夏六月四日、六佛從忉利天下還日、係庚子仲秋二十二日、七佛般涅槃日、係庚辰四月十五日, thứ nhất ngày đức Phật nhập vào thai đích xác là ngày rằm tháng 5 năm Kỷ Mùi; thứ hai ngày đức Phật giáng sanh đích xác là ngày mồng 7 tháng 4 năm Canh Dần; thứ ba ngày đức Phật xuất gia đích xác là ngày mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý; thứ tư ngày đức Phật thành đạo đích xác là ngày rằm tháng tư năm Giáp Ngọ; thứ năm ngày đức Phật chuyển Pháp Luân Tứ Đế đích xác là ngày mồng 4 tháng 6 cùng năm Ngài thành đạo; thứ sáu ngày đức Phật từ cung Trời Đao Lợi trở về đích xác là ngày 22 tháng 8 năm Canh Tý; thứ bảy ngày đức Phật nhập Niết Bàn đích xác là ngày rằm tháng 4 năm Canh Thìn).” Hay trong bài Bát Nhã Vô Tri (般若無知) của Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30 có câu: “Bát Nhã hiệu Vô Tri, tương phùng thoại sở chi, khứ niên Sơ Hạ nguyệt, kim nhật Mộ Xuân thì, lâm thủy tinh thần kiện, đăng sơn khí lực suy, ân cần thoại tiêu tức, mi thượng cánh sanh mi (船若號無知、相逢話所之、去年初夏月、今日暮春時、臨水精神健、登山氣力衰、慇懃話消息、眉上更生眉, Bát Nhã hiệu Vô Tri, gặp nhau nói chuyện gì, năm ngoái tháng đầu Hạ, nay ngày cuối xuân thì, đến nước tinh thần mạnh, lên non khí lực suy, ân cần thăm hỏi đủ, trên mi mọc lông mày).”
- Tháng Tư Âm Lịch có tên gọi khác như Phạp Nguyệt (乏月), Hoang Nguyệt (荒月), Dương Nguyệt (陽月), Nông Nguyệt (農月), Càn Nguyệt (乾月), Tỵ Nguyệt (巳月), Úy Nguyệt (畏月), Vân Nguyệt (雲月), Hòe Nguyệt (槐月), Mạch Nguyệt (麥月), Chu Nguyệt (朱月), Dư Nguyệt (餘月), Thủ Hạ (首夏), Hạ Thủ (夏首), Mạnh Hạ (孟夏), Sơ Hạ (初夏), Duy Hạ (維夏), Thỉ Hạ (始夏), Hòe Hạ (槐夏), Đắc Điểu Vũ Nguyệt (得鳥羽月), Hoa Tàn Nguyệt (花殘月), Trọng Lữ (仲侶、仲呂), Thuần Dương (純陽), Thuần Càn (純乾), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Hòa Nguyệt (和月), Mạch Thu Nguyệt (麥秋月), Mạch Hầu (麥候), Mạch Tự (麥序), Lục Dương (六陽), Mai Nhục (梅溽), Mai Nguyệt (梅月), Thanh Hòa (清和), Chu Minh (朱明), Phạp Hạ (乏夏), Xuân Dư (春餘), Hòe Tự (槐序), Anh Tự (櫻序). Một số câu hay cho tháng Tư như Hòe phong mị Hạ (槐風媚夏, gió đưa cây Hòe nịnh hót mùa Hè), mạch Hạ phiên Thu (麥夏翻秋, mùa Hè lúa chuyển sang Thu), ngũ phong mạch thục (五風麥熟, năm gió làm lúa chín), tế vũ mai phì (細雨梅肥, mưa nhẹ làm cho Mai tươi tốt), Chu Minh bố lệnh (朱明布令, Chu Minh ban lệnh), Xích Đế ty quyền (赤帝司權, Xích Đế nắm quyền). Một số từ dùng cho tháng Tư nhuận như nguyệt tiêu kỷ nhuận (月蕭紀閏, trăng tiêu điều tháng năm nhuận), thử khí sơ lai(暑氣初來, khí nóng bắt đầu đến), vân đường nghênh Hạ (雲堂迎夏, nhà mây đón mùa Hè), tuyết sơn tống Xuân(雪山送春, núi tuyết tiễn Xuân đi). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như Mai hoàng sầu vũ (梅黃愁雨, Mai vàng buồn mưa), mạch thục bi phong (麥熟悲風, lúa chín sầu gió). Từ dùng cho Lập Hạ là Hạ hành triệu thỉ (夏衡肇始, mùa Hè thật sự bắt đầu), viêm đức phương tân (炎德方新, khí nóng càng mới), quỳ hoa hướng dương (葵花向陽, hoa Quỳ hướng về mặt trời), trúc diệp thùy âm (竹葉垂陰, lá tre tìm bóng râm), tân hà thiếp thủy (新荷貼水, sen mới bám vào nước), trĩ trúc thành âm (稚竹成陰, tre non thành bóng râm), lục long hành Hạ (六龍行夏, sáu rồng đi khắp mùa Hè), vạn tính thư Hạ (萬姓舒憂, muôn họ thư thả hưởng mùa Hè).
- Mạch Nguyệt (麥月): vào tháng 4 Âm Lịch là lúc lúa mạch chín, vì vậy tháng nầy được gọi là Mạch Nguyệt. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) cho biết rằng: “Mạnh Hạ chi nguyệt mạch thu chí (孟夏之月麥秋至, tháng đầu Hạ lúa mạch chín đến).” Trong bài Nguyệt Lịnh Chương Cú (月令章句) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bách cốc các dĩ kỳ sơ sanh vi Xuân, thục vi Thu, cố mạch dĩ Mạnh Hạ vi thu (百穀各以其初生爲春、熟爲秋、故麥以孟夏爲秋, trăm loại lúa đều lấy lúc mới sinh trưởng là mùa Xuân, chín là mùa Thu, cho nên lúa mạch lấy đầu Hạ là mùa lúa chín).”
- Tháng Năm Âm Lịch có tên gọi khác như Trọng Hạ (仲夏), Siêu Hạ (超夏), Trung Hạ (中夏), Thỉ Nguyệt (始月), Tinh Nguyệt (星月), Hoàng Nguyệt (皇月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Bồ Nguyệt (蒲月), Lan Nguyệt (蘭月), Mang Nguyệt (忙月), Ngọ Nguyệt (午月), Lựu Nguyệt (榴月), Độc Nguyệt (毒月), Ác Nguyệt (惡月), Quất Nguyệt (橘月), Nguyệt Bất Kiến Nguyệt (月不見月), Xuy Hỷ Nguyệt (吹喜月), Cao Nguyệt (皋月), Nhuy Tân (蕤賓), Đoan Dương Nguyệt (端陽月), Thử Nguyệt (暑月), Thuần Nguyệt (鶉月), Minh Điêu (鳴蜩), Hạ Ngũ (夏五), Tiện Nam Nhiễm Nguyệt (賤男染月), Tiểu Hình (小刑), Thiên Trung (天中), Mang Chủng (芒種), Khải Minh (啟明), Úc Chưng (郁蒸), Cấu Nguyệt (垢月), Nhuy Nguyệt (蕤月), Bạc Nguyệt (薄月), Đạm Nguyệt (炎月), Ngải Nguyệt (艾月). Một số câu hay cho tháng Năm như hà kị nghênh phong (荷芰迎風, củ sen đón gió), Hòe âm kết duyên (槐陰結緣, bóng Hòe kết duyên), Lựu hỏa thư hồng (榴火舒紅, hoa Thạch Lựu phô sắc màu hồng đỏ rực), nông tương đăng thử (農將登黍, nhà nông sắp cúng lúa mùa), nguyệt kỷ minh điêu (月紀鳴蜩, tháng ghi nhớ tiếng ve sầu rả rích), trì hà thổ lục (池荷吐綠, hoa sen dưới hồ nhả màu xanh non), Liễu hỏa thư đan (柳火舒丹, hoa Liễu phô sắc màu đỏ rực), Lan thang thức dục (蘭湯拭浴, Lan nóng phe phẩy tắm), bạc tửu phù thương (薄酒浮觴, rượu nhạt uống chén phạt). Một số từ dùng trong Tiết Đoan Dương (端陽節) như khiết Lan tiết giới (潔蘭節屆, tiết Lan thanh khiết), huyền ngải thời tân (懸艾時新, ngải treo luôn mới). Từ dùng cho Hạ Chí như nhật thiên Đông thăng (日偏東升, mặt trời nghiêng lên từ phương Đông), nguyệt chánh Nam Khâu (月正南邱, mặt trăng chính hướng đất Nam Khâu). Một số từ dùng cho tháng Năm nhuận như Nhuy Tân kỷ nhuận (蕤賓紀閏, tháng Năm ghi nhuận), ngải hổ do huyền (艾虎猶懸, da lông chồn còn treo). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như trì hà lệ lộ (池荷淚露, sen nơi hồ giọt sương lệ), viện trúc bi phong (院竹悲風, hàng tre bên nhà thoảng gió buồn).
- Bồ Nguyệt (蒲月): tên gọi riêng của tháng 5 Âm Lịch, vì có tập quán người ta thường lấy cây Xương Bồ (菖蒲) làm kiếm để xua đuổi tà khí vào dịp Tết Đoan Ngọ (端午節, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Ngũ nguyệt kiến Ngọ viết Đôn Tang, hựu viết Nhuy Tân, hoặc danh Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, hựu xưng Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt đẳng (五月建午曰敦牂、又曰蕤賓、或名天中節、或脩月、又稱皋月、蒲月、艾月、榴月等, tháng Năm đúng tháng Ngọ, được gọi là Đôn Tang, còn gọi là Nhuy Tân, hoặc có tên Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt; lại gọi là Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt, v.v.).” Hay trong Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục (新編諸宗敎藏總錄, Taishō Vol. 55, No. 2184) quyển 1 có đoạn: “Thời Nguyên Lộc, tuế thứ Quý Dậu Bồ Nguyệt ký vọng, Tỳ Lô Chánh Tông Tây Hồ Tỳ Kheo Bạch Huyền Thiên Long thư vu Tam Học Sơn thảo đường (時元祿、歲次癸酉蒲月旣望、毘盧正宗西湖比丘白玄天龍書于三學山草堂, lúc bấy giờ vào niên hiệu Nguyên Lộc, ngày 16 tháng 5 năm Quý Dậu [1693], Tỳ Kheo Bạch Huyền Thiên Long thuộc Tỳ Lô Chánh Tông viết tại ngôi nhà cỏ ở Tam Học Sơn).”
- Tiết Đoan Dương (端陽節): tên gọi khác của Tiết Đoan Ngọ (端午節, Tết Đoan Ngọ), còn gọi là Tiết Ngọ Nhật (午日節), Ngũ Nguyệt Tiết (五月節), Ngũ Nhật Tiết (五日節), Ngải Tiết (艾節), Đoan Ngũ (端五), Trùng Ngọ (重午), Ngọ Nhật (午日), Hạ Tiết (夏節), Bồ Tiết (蒲節); là lễ hội nhằm ngày mồng 5 tháng 5 Âm Lịch hằng năm. Nguyên gốc, đây là ngày xua đuổi ôn dịch của mùa Hè; sau đó, nhân sự việc thi nhân Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) nước Sở nhảy xuống sông Mịch La (汨羅) tự tử để hy sinh cho quốc gia, nên ngày nầy biến thành ngày kỷ niệm Khuất Nguyên. Tuy nhiên, cũng có thuyết cho rằng ngày nầy là ngày kỷ niệm vị trung thần Ngũ Tử Tư (伍子胥, ?-484 ttl.) nhà Ngô. Cùng với lễ Tết, trung thu, Tiết Đoan Ngọ được xem như là ngày lễ truyền thống quan trọng của các nước thuộc văn hóa Đông Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam, v.v. Vào dịp nầy, người ta có tập tục treo cây Cỏ Ngải; hay một số địa phương dùng cây Xương Bồ (菖蒲), lá Cỏ Ngải, hoa Lựu, củ Tỏi, Hoa Long Thuyền (龍船花) bện thành hình người, gọi là Người Ngải để xua đuổi tà ma, khí độc. Trong bài thơ Đoan Ngọ Nhật (端午日) của Ân Nghiêu Phiên (殷堯藩, ?-?) có đoạn: “Thiếu niên giai tiết bội đa tình, lão khứ thùy tri cảm khái sinh, bất hiệu Ngải Phù xu tập tục, đản kỳ Bồ Tửu thoại thăng bình(少年佳節倍多情、老去誰知感慨生、不效艾符趨習俗、但祈蒲酒話昇平, tuổi trẻ tiết đẹp thật đa tình, già đến ai hay cảm khái sinh, chẳng theo Bùa Ngải xua tập tục, chỉ mong rượu quý chuyện an bình).” Trong Ứng Am Đàm Hoa Thiền Sư Ngữ Lục (應菴曇華禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1359) quyển 3 cũng có đoạn: “Ngũ nguyệt ngũ nhật Đoan Ngọ Tiết, hảo sự đương dương nan yểm tắc, Quy Tông đột xuất trụ trượng đầu, nhàn thần dã quỷ câu tiêu tức (五月五日端午節、好事當陽難掩塞、歸宗突出拄杖頭、閑神野鬼俱消滅, ngày năm tháng năm Đoan Ngọ Tết, chuyện tốt rõ ràng khó che bít, Quy Tông đột xuất chống trượng đầu, thần tiên quỷ mị thảy tiêu dứt).” Hay trong Suất Am Phạn Tông Thiền Sư Ngữ Lục (率菴梵琮禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1364) có đoạn như: “Kim triêu chánh đương Đoan Ngọ Tiết, nạp tăng đảo dụng chơn diệu quyết, chuyển Thánh tác phàm, điểm kim thành thiết (今朝正當端午節、衲僧倒用眞妙訣、轉聖作凡、點金成鐵, sáng nay đúng dịp Tết Đoan Ngọ, nạp tăng dùng bí quyết thần diệu ngược lại, chuyển Thánh làm phàm, biến vàng thành thép).”
- Lựu hỏa (榴火): hoa Thạch Lựu; vì màu hồng của loại hoa nầy rực rỡ như lửa nên có tên gọi như vậy. Trong bài từ Hoán Khê Sa Mạn (浣溪沙慢) của Chu Bang Ngạn (周邦彥, 1056-1121) nhà Tống có câu: “Nộn anh thúy ác, hồng hạnh giao Lựu hỏa (嫩英翠幄、紅杏交榴火, hoa non phủ màn biếc, mơ hồng cùng lựu đỏ).” Hay trong bài thơ Tạ Chu Hạc Cao Chiêu Ẩm (謝朱鶴皋招飲) của Tào Bá Khải (曹伯啟, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Mãn viện trúc phong xuy tửu diện, lưỡng châu Lựu hỏa phát thi sầu (滿院竹風吹酒面、兩株榴火發詩愁, đầy nhà gió trúc thổi mặt rượu, hai hàng hoa Lựu phát thơ buồn).” Trong Chánh Nguyên Lược Tập (正源略集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1587) quyển 9, phần Cô Tô Di Hiền Liên Phong Nguyên Thiền Sư (姑蘇怡賢蓮峰源禪師) có đoạn: “Tạc tiêu phong vũ quá viên lâm, tẩy xuất Uy Âm na bạn xuân, vô vị chân nhân mao cốt lãnh, liễu yên lựu hỏa nhất thời tân (昨宵風雨過園林、洗出威音那畔春、無位眞人毛骨冷、柳煙榴火一時新, đêm qua mưa gió đến rừng hoang, rửa sạch Oai Âm mấy kiếp xuân, vô vị chân nhân lông cốt lạnh, lựu hoa khói liễu vẫn mới toanh).”
- Ngải kỳ (艾旗): lá cờ ngải, biểu tượng đuổi tà, chém ma quỷ, rất phổ biến trong dịp tết Đoan Ngọ. Như trong bài thơ Bồ Kiếm Ngải Kỳ (蒲劍艾旗) của Chu Tác Nhân (周作人, 1885-1967) có câu: “Bồ kiếm ngải kỳ mang bán nhật, phân lai hương đại dữ hương cầu, hùng hoàng ngạch thượng thư vương tự, hỷ thính nhân xưng lão hổ đầu(蒲劍艾旗忙半日、分來香袋與香球、雄黃額上書王字、喜聽人稱老虎頭, kiếm bồ cờ ngải bận nửa ngày, chia thành thơm túi trái thơm cầu, trên cổ đá quý viết vương chữ, vui thấy người kêu lão cọp đầu).”
- Tháng Sáu Âm Lịch có tên gọi khác như Thả Nguyệt (且月), Hà Nguyệt (荷月), Thử Nguyệt (暑月), Tiêu Nguyệt (焦月), Phục Nguyệt (伏月), Quý Nguyệt (季月), Mùi Nguyệt (未月), Mộ Hạ (暮夏), Diểu Hạ (杪夏), Vãn Hạ (晚夏), Quý Hạ (季夏), Trường Hạ (長夏), Cực Thử (極暑), Tổ Thử (組暑), Nhục Thử (溽暑), Lâm Chung (林鐘), Tinh Dương (精陽), Độn Nguyệt (遁月), Lâm Chung (林鍾), Cam Chung (甘鍾), Tinh Nguyệt (精月), Đán Nguyệt (旦月), Cửu Hạ (九夏), Đản Thử (但暑), Lệ Nguyệt (荔月), Tổ Nguyệt (祖月). Một số câu hay cho tháng Sáu như lục hà hương viễn (綠荷香遠, sen xanh hương ngát xa), liễu ám phong thanh (柳暗風清,liễu râm gió mát), tất suất cư bích (蟋蟀居壁, dế mèn sống nơi tường nhà), Xạ Thảo vi oánh (麝草爲瑩, cỏ Xạ Thảo trong suốt), băng bàn tiến quả (冰盤薦果, mâm băng cúng quả), hồng tảo phất hạm (紅藻拂檻, cỏ hồng phất qua song cửa), bích thọ lâm song (碧樹臨窗, cây xanh đến bên cửa sổ). Một số từ dùng cho Sơ Phục (初伏, chỉ 10 ngày đầu cùa mùa nóng) như huề cầm tải tửu (攜琴載酒, mang đàn cầm đi chở rượu), trầm lý phù qua (沉李浮瓜, mận chìm dưa nổi). Một số từ dùng cho Trung Phục (中伏, chỉ 10 ngày giữa của mùa nóng) như viêm phong chánh tích (炎風正積, gió nóng tích tụ), Canh Phục phương trung (庚伏方中, ngay giữa Tam Phục). Một số từ dùng cho Mạt Phục (末伏, chỉ 10 ngày cuối của mùa nóng) như Tam Canh tại hậu (三庚在後, ngay sau Tam Phục), Mạt Phục dư viêm (末伏餘炎, hơi nóng còn lại kỳ Mạt Phục). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như thiền thanh hiệu nguyệt (蟬聲號月, tiếng ve sầu than thở với trăng), yến ngữ bi phong (燕語悲風,chim yến chuyện trò với gió buồn).
- Thử Nguyệt (暑月): tên gọi khác của tháng 6, nghĩa là tháng nóng bức, thời tiết oi bức. Như trong Kim Cang Kinh Tân Dị Lục (金剛經新異錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1633), phần Thử Thệ Sanh Hương (暑逝生香, trời nắng qua đời có hương thơm) có đoạn: “Một thời thị tật, chánh đương Sùng Trinh Nhâm Thân Thử Nguyệt, khởi cánh y mộc dục lễ Phật viết: ‘Mỗ nhất sanh kính Phật, quả hữu Phật duyên, đương linh di thể khí tức bất uế, tùy già phu đoan tọa hiệp chưởng nhi thệ.’ Thệ hậu thất nhật nhan sắc hàm tiếu như sanh (歿時示疾、正當崇禎壬申暑月、起更衣沐浴禮佛曰、某一生敬佛、果有佛緣、當令遺體氣息不穢、隨跏趺端坐合掌而逝、逝後七日顏色含笑如生, trước khi mất thì cáo bệnh, đúng vào tháng 6 năm Nhâm Thân [1632] niên hiệu Sùng Trinh, ngồi dậy lại thay y phục, tắm rửa, lễ Phật và bảo rằng: ‘Con một đời kính Phật; nếu quả là có duyên với Phật, xin hãy khiến cho thân thể nầy khi dừng hơi thở thì không ô uế.’ Bèn ngồi xếp bằng ngay ngắn, chấp tay mà ra đi, sau khi từ trần được bảy ngày mà nhan sắc vẫn cười hàm tiếu như còn sống).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) quyển 1 có câu: “Phùng hà lạc thủy, trì đăng thất hỏa, thử nguyệt nhiệt vong, hàn Đông đống tử (逢河落水、持燈失火、暑月熱亡、寒冬凍死, gặp sông rơi xuống nước, cầm đèn thì mất lửa, tháng oi bức thì chết vì nóng, mùa Đông lạnh thì chết cóng).”
- Liên phòng (蓮房): (1) Đài sen. Vì bên trong đài sen có hạt sen, mỗi hạt đều cách nhau bởi một lỗ hổng, nên gọi là “liên phòng (蓮房, phòng của đài sen).” Trong bài thơ Thu Hứng (秋興) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng (露冷蓮房墜粉紅, hơi sương lạnh đài sen rơi phấn hồng).” Trong bài Thái Liên Phú (採蓮賦) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường lại có câu: “Thính lăng ca hề kỉ khúc, thị liên phòng hề kỉ chu (聽菱歌兮幾曲、視蓮房兮幾株, nghe bài ca hái ấu chừ mấy khúc, nhìn đóa sen chừ được mấy gốc).” Trong Tây Phương Phát Nguyện Văn Chú (西方發願文註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1161) có giải thích rõ rằng: “Kim Cang Đài, tức Liên Hoa Tòa, kỳ tòa Kim Cang sở thành, cố danh Kim Cang Đài; hựu hoa nội liên phòng, diệc danh vi đài, Thượng Phẩm Thượng Sanh, nãi hữu thử đài (金剛臺、卽蓮華座、其座金剛所成、故名金剛臺、又華內蓮房、亦名爲臺、上品上生、乃有此臺, Đài Kim Cang tức là Tòa Hoa Sen, tòa nầy do Kim Cang mà thành, nên có tên là Đài Kim Cang; lại trong hoa có liên phòng, cũng gọi là đài; hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh sẽ có đài nầy).” Sau nầy, người ta thường dùng một số câu để chúc mừng sanh con nói chung, hay sanh con trai nói riêng như tử chủng liên phòng (子種蓮房, hạt gieo trong đài sen), liên phòng đắc tử đa (蓮房得子多, đài sen được nhiều hạt), v.v. (2) Chỉ cho phòng ở của chư tăng, vì Phật Giáo lấy tượng trưng sự trong sạch, không nhiễm của hoa sen để ví dụ cho phòng ở của chư tăng. Như trong Tây Quy Trực Chỉ (西歸直指, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1173) quyển 2 có đoạn: “Bỉ tắc chất thác liên phòng, an tọa diệu hương cung điện, ký bất thọ bào thai chi ô uế, phục bất lụy mẫu thị chi cù lao (彼則質托蓮房、安坐妙香宮殿、旣不受胞胎之汙穢、復不累母氏之劬勞, vị ấy sẽ sinh ra nơi phòng sen, an tọa trên cung điệu hương thơm, đã không bị sự ô uế của bào thai, lại chẳng phải chịu sự nuôi nấng cực khổ của người mẹ).”
- Tháng Bảy Âm Lịch có tên gọi khác như Mạnh Thu (孟秋), Thủ Thu (首秋), Thượng Thu (上秋), Qua Thu (瓜秋), Tảo Thu (早秋), Tân Thu (新秋), Triệu Thu (肇秋), Lan Thu (蘭秋), Lan Nguyệt (蘭月), Thân Nguyệt (申月), Xảo Nguyệt (巧月), Qua Nguyệt (瓜月), Lương Nguyệt (涼月), Tương Nguyệt (相月), Văn Nguyệt (文月), Thất Tịch Nguyệt (七夕月), Nữ Lang Hoa Nguyệt (女郎花月), Văn Phi Nguyệt (文披月), Đại Khánh Nguyệt (大慶月), Tam Âm Nguyệt (三陰月), Di Tắc (夷則), Sơ Thương (初商), Mạnh Thương (孟商), Qua Thời (瓜時), Tố Thu (素秋), Sơ Thu (初秋), Sương Nguyệt (霜月), Trung Nguyệt (中月), Triệu Nguyệt (肇月). Một số câu hay cho tháng Bảy như vân thu Hạ sắc (雲收夏色, mây thâu sắc màu mùa Hè), nguyệt động Thu thanh (月動秋聲, trăng làm động tiếng Thu), kim phong đãng thử (金風蕩暑, gió Thu quét phăng đi hơi nóng), ngọc luật minh Thu (玉律鳴秋, nhạc ngọc vang vọng mùa Thu), kiểu nguyệt như sương (皎月如霜, trăng sáng như sương), Thu khai ngọc vũ (秋開玉宇, Thu mở nhà ngọc), luật ứng thanh cao (律應清高, nhạc vận thanh cao), thủy thiên nhất sắc (水天一色, nước và trời cùng một sắc màu), phong nguyệt song thanh (風月雙清, gió và trăng đều trong suốt), tam canh thử thối (三更暑退, ba canh oi bức thối lui), nhất chẩm lương sanh (一枕涼生, bên gối hưởng gió mát). Một số từ dùng cho Thất Tịch (七夕) như nhân gian khất xảo (人間乞巧, mọi người xin trí tuệ khôn ngoan), thiên thượng giai kỳ (天上佳期, thời kỳ tốt trên trời). Một số từ dùng cho tháng Bảy nhuận như song tinh nhất hội (雙星一會, hai sao cùng gặp nhau), nhất nhuận quy dư (一閏歸餘, một lần nhuận vẫn còn dư). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như thiền thanh đề mộ (蟬聲啼暮, tiếng ve khóc chiều), cùng vận bi Thu (蛩韻悲秋, tiếng dế buồn mùa Thu).
- Qua Nguyệt (瓜月): tên gọi khác của tháng Bảy Âm Lịch. Do vì trái dưa thường chín, ngát hương vào tháng Bảy Âm Lịch, nên tháng nầy được gọi như vậy. Như trong Thi Kinh (詩經), Chương Bân Phong (豳風), Thất Nguyệt (七月) có giải thích rằng: “Thất nguyệt thực qua, bát nguyệt đoạn hồ (七月食瓜、八月斷壺, tháng Bảy ăn quả dưa, tháng Tám bửa trái bầu).”
- Tháng Tám Âm Lịch có tên gọi khác như Trọng Thu (仲秋), Trung Thu (中秋), Thu Bán (秋半), Thu Cao (秋高), Quất Xuân (橘春), Thanh Thu (清秋), Chánh Thu (正秋), Quế Thu (桂秋), Hoạch Nguyệt (獲月), Tráng Nguyệt (壯月), Quế Nguyệt (桂月), Diệp Nguyệt (葉月), Thu Phong Nguyệt (秋風月), Dậu Nguyệt (酉月), Nguyệt Kiến Nguyệt (月見月), Hồng Nhiễm Nguyệt (紅染月), Nam Lữ (南呂), Trọng Thương (仲商), Chá Nguyệt (柘月), Nhạn Lai Nguyệt (雁來月), Trung Luật (中律), Tứ Âm Nguyệt (四陰月), Sảng Nguyệt (爽月), Đại Thanh Nguyệt (大清月), Trúc Tiểu Xuân (竹小春), Quán Nguyệt (觀月), Kết Xuân (桔春), Cử Nguyệt (舉月). Một số câu hay cho tháng Tám như châu lộ ngưng bạch (珠露凝白, sương châu đọng thành màu trắng), quế nhụy sanh hương (桂蕊生香, nhụy hoa quế ngát hương), lộ doanh tiên chưởng (露盈仙掌, sương đọng đầy bàn tay tiên), quế trán thiềm cung (桂綻蟾宮, quế khắp cung trăng), lộ châu trích lãnh (露珠滴冷, giọt sương ngọc lạnh băng), quế nguyệt phù hàn (桂月浮寒, trăng quế trôi nổi lạnh ngắt), thiềm quang chánh mãn (蟾光正滿,ánh sáng trăng tròn đầy), nhạn hoành độ ảnh (雁橫度影, nhạn bay ngang qua còn lưu bóng), thiềm thố trừng quang (蟾兔澄光, ánh trăng sáng tỏ). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như thiền hiệu cổ mộc (蟬號古木, ve khóc cây cổ), yến biệt điêu lương (燕別雕梁, yến giã biệt xà nhà chạm trổ).
- Quế Nguyệt (桂月): (1) Chỉ mặt trăng; vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có cây quế, nên có tên như vậy. Như trong bài Đông Phi Bá Lao Ca (東飛伯勞歌) thuộc Tạp Khúc Ca Từ Bát (雜曲歌辭八) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Nam song Bắc dũ quế nguyệt quang, la duy ỷ trướng chỉ phấn hương (南窗北牖桂月光、羅帷綺帳脂粉香, cửa Nam song Bắc tỏa sáng trăng, rèm the màn lưới phấn sáp thơm).” Hay trong bài Chung Nam Sơn Nghĩa Cốc Minh (終南山義谷銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Quế nguyệt nguy huyền, phong tuyền hư vận (桂月危懸、風泉虛韻, mặt trăng treo cao, suối reo tiếng lắng).” Hoặc trong bài Đối Nguyệt Liễu Tàn Kinh (對月了殘經) của Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 4 lại có đoạn: “Thiên biên quế nguyệt quyên quyên, lô thượng đàn yên kiêu kiêu, khoáng kiếp tằng khan để kinh, vị triển quyển thời đô liễu (天邊桂月娟娟、爐上檀煙梟梟、曠劫曾看底經、未展卷時都了, bên trời trăng tỏ xinh xinh, trên lò khói bốc nghi ngút, muôn kiếp từng đọc bao kinh, khi chưa mở ra đã ngộ).” (2) Chỉ cho tháng Tám Âm Lịch, vì vào tháng nầy hoa quế nở rộ, nên có tên như vậy. Như trong bài Tăng Chi Kim Lăng (僧之金陵, Tăng Đi Kim Lăng) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Lương tiêu quế nguyệt cảnh trung đình, củng tại thanh sa diệp để minh, biệt ngã thốn tâm như thốn thiết, bất tri Nam quốc kỉ đa trình (良宵桂月耿中庭、蛩在青莎葉底鳴、別我寸心如寸鐵、不知南國幾多程, đêm nay trăng tỏ rạng mái đình, dế mèn dưới cỏ kêu ỏi inh, mình ta tấc lòng như nặng trĩu, chẳng hay nước Nam mấy dặm trình).”
- Tết Trung Thu (中秋節): đây là ngày Tết truyền thống của nhân dân các nước Đông Á, vốn khởi nguồn từ Trung Quốc, nhằm vào ngày rằm tháng 8 Âm Lịch hằng năm. Theo Âm Lịch Trung Quốc, tháng Tám là tháng thứ hai của mùa Thu; xưa kia gọi là Trọng Thu (仲秋); sau nầy dân gian gọi là Trung Thu (中秋), Thu Tịch (秋夕), Bát Nguyệt Tiết (八月節), Bát Nguyệt Bán (八月半), Nguyệt Tịch (月夕), Nguyệt Tiết (月節). Hơn nữa, do vì vào lúc nầy mặt trăng tròn đầy, tượng trưng cho sự đoàn viên, nên có tên là Đoàn Viên Tiết (團圓節). Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v., cũng xem Tết Trung Thu như là ngày Tết truyền thống của quốc gia. Từ ngữ “Trung Thu” được tìm thấy sớm nhất trong các thư tịch Chu Lễ (周禮), Lễ Ký (禮記), v.v. Như trong chương Nguyệt Lịnh (月令) của Lễ Ký có ghi rằng: “Trung Thu chi nguyệt dưỡng suy lão, hành mi chúc ẩm thực (仲秋之月養衰老、行糜粥飲食, tháng của giữa Thu dưỡng tuổi già, nấu cháu kê mà ăn uống).” Từ thời nhà Đường (唐, 618-907) trở về sau, Tết Trung Thu trở thành ngày Tết cố định. Truyền thuyết cho rằng vua Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, tại vị 658-762) mộng thấy đi chơi trên cung trăng, thưởng thức nhạc trời gọi là Nghê Thường Vũ Y Khúc (霓裳羽衣曲), từ đó dân gian bắt đầu thịnh hành tập tục Tết Trung Thu. Thông thường, người ta vẫn cho rằng lễ Tết nầy bắt đầu thịnh hành dưới thời nhà Tống (宋, 960-1279). Đến cuối thời nhà Nguyên (元, 1271-1368), khi khởi binh, Chu Nguyên Chương (朱元璋, tại vị 1368-1398) có bí mật lấy bánh Trung Thu làm tín hiệu “bát nguyệt thập ngũ nhật sát Thát Tử (八月十五日殺韃子, ngày Rằm tháng Tám giết quân Mông Cổ)”; cho nên vào năm 1368 (Hồng Võ [洪武] nguyên niên), Chu Nguyên Chương cho lấy bánh Trung Thu làm bánh ngọt thiết đãi quần thần. Vào thời nhà Minh (明, 1368-1644) và Thanh (清, 1616-1636), Tết Trung Thu đã trở thành một trong những ngày Tết truyền thống lớn nhất của Trung Quốc. Bộ Chánh Đức Giang Ninh Huyện Chí (正德江寧縣誌) có ghi lại rằng vào đêm Trung Thu, người dân Nam Kinh thường thưởng thức trăng Thu, cả nhà cùng nhau ngắm trăng được gọi là khánh đoàn viên(慶團圓), ngồi quanh quần ăn uống vui vẻ gọi là viên nguyệt (圓月), ra ngoài đi chơi các phố phường gọi là tẩu nguyệt (走月). Một trong những truyền thuyết nổi tiếng về nguồn gốc của Tết Trung Thu là Thường Nga Bôn Nguyệt (嫦娥奔月, Thường Nga [Hằng Nga] đùa giỡn với trăng). Tương truyền từ thời cổ đại xa xưa, anh hùng bắn mặt trời là Hậu Nghệ (后羿) cưới Hằng Nga làm vợ, trở thành đế vương, thường thi hành chính sách hung bạo, ác độc. Có một hôm nọ, Hậu Nghệ xin được một bao thuốc trường sinh bất tử từ tay Tây Vương Mẫu (西王母). Hậu Nghệ mang thuốc về nhà và cất vào trong một cái hộp. Hằng Nga biết được, sợ rằng sau khi uống thuốc nầy vào thì Hậu Nghệ sẽ trở thành trường sinh bất tử, làm cho muôn dân càng thống khổ hơn, bèn lấy toàn bộ thuốc ấy uống sạch, sau đó biến thành tiên nữ, bay lên trên cung trăng. Bá tánh sau khi biết Hằng Nga thành tiên bay lên cung trăng rồi, thiết bàn hương án dưới mặt trăng, cầu xin tiên nữ ban cho bình an, cát tường. Vì vậy có phong tục lạy mặt trăng vào dịp Tết Trung Thu. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có những tập tục trong dịp Tết Trung Thu. Tại Trung Hoa, có một số phong tục chính như ngắm trăng Trung Thu, ăn Bánh Trung Thu, treo hay rước lồng đèn, đốt tháp đồ mã, v.v. Tập tục ngắm trăng được xem như là một trong những hoạt động truyền thống vào dịp nầy. Trong Lễ Ký có từ “Thu mộ tịch nguyệt (秋暮夕月)”, ý là bái tế Thần Mặt Trăng; vào lúc nầy thì thiết hương án để nghinh đón mùa lạnh và tế mặt trăng. Như trong Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) có ghi rằng: “Trung Thu dạ, quý gia kết sức đài tạ, dân gian tranh chiếm tửu lâu ngoạn nguyệt (中秋夜、貴家結飾台榭、民間爭占酒樓玩月, vào đêm Trung Thu, nhà cao sang thì trang trí đài cao, dân gian thì tranh nhau chiếm quán rượu để ngắm trăng).” Về Bánh Trung Thu, dân gian Trung Quốc có câu rằng: “Bát nguyệt thập ngũ nhật chánh viên, Trung Thu nguyệt bính hương hựu điềm (八月十五日正圓、中秋月餅香又甜, ngày Rằm tháng Tám trăng thật tròn, ăn bánh Trung Thu hương ngọt thơm).” Trong Mộng Lương Lục (夢梁錄) của Ngô Tự Mai (吳自牧, ?-?) nhà Nam Tống cho biết rằng Bánh Trung Thu đương thời là một loại thực phẩm điểm tâm. Sau nầy, loại bánh nầy được đem dùng ăn ngắm trăng và đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào dịp lễ hội nầy. Đồng thời, Bánh Trung Thu cũng là lễ vật để liên lạc cảm tình giữa bằng hữu với nhau trong dịp Tết Trung Thu. Ngoài các loại bánh thông thường ra, tại Triết Giang (江浙) còn có Bánh Trung Thu Thịt Tươi (鮮肉月餅, Tiên Nhục Nguyệt Bính). Riêng tập quán đốt tháp vàng mã rất thịnh hành ở các vùng nông thôn của Phúc Kiến (福建), Giang Tây (江西), Quảng Đông (廣東), Quảng Tây (廣西), v.v. Thân của tháp được kết thành bởi những miếng gạch vỡ vụn, thân cây, cỏ bện; hình tròn, trên nhỏ dưới to, bên trong rỗng. Tại bán đảo Triều Tiên, lễ hội nầy được gọi là Thu Tịch (秋夕), Trọng Thu Tiết (仲秋節), Gia Bài (嘉俳), Trọng Thu (仲秋), Gia Bài Nhật (嘉俳日), Trọng Thu Giai Tiết (仲秋佳節). Nhân ngày nầy, người dân ở đây có phong tục thường đi tảo mộ, lấy các loại sản phẩm thu hoạch được để cúng tế tổ tiên, trở về quê thăm người thân, v.v. Đối với Nhật Bản, Tết Trung Thu được gọi là Thập Ngũ Dạ (十五夜, jūgoya), Trung Thu Danh Nguyệt (中秋の名月, chūshū-no-meigetsu), Vu Danh Nguyệt (芋の名月, imo-no-meigetsu). Người Nhật cũng có phong tục ngắm trăng gọi là nguyệt kiến (月見, tsukimi) và ăn loại bánh gọi là tsukimidango (月見團子, nguyệt kiến đoàn tử). Đặc biệt đối với Việt Nam, Tết Trung Thu đã trở thành ngày Tết long trọng của trẻ em, còn được gọi là Tết Trông Trăng hay Tết Thiếu Nhi, Tết Nhi Đồng. Trẻ em Việt Nam rất mong đợi được đón Tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước, v.v., rồi các thứ bánh như bánh nướng, bánh dẻo. Ở một số nơi, người ta còn tổ chức Múa Lân, Múa Sư Tử, Múa Rồng để các em vui chơi thỏa thích. Trong bài thơ Muốn Làm Thằng Cuội của Thi sĩ Tản Đà (傘沱, 1889-1939) có đoạn rằng: “Có bầu có bạn can chi tủi, cùng gió cùng mây thế mới vui, rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám, tựa nhau trông xuống thế gian cười.” Hay trong bài hát Rước Đèn Tháng Tám lại có câu như: “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường, lòng vui sướng với đèn trong tay, em múa ca trong ánh trăng rằm, đèn ông sao với đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn bướm bướm, em rước đèn này đến cung trăng, đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng, trong ánh đèn rực rỡ muôn màu.” Tết Trung Thu là một đề tài vô cùng phong phú cho các thi hào, văn sĩ. Như trong bài Thu Tiêu Nguyệt Hạ Hữu Hoài (秋宵月下有懷) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đườngcó câu: “Thu không minh nguyệt huyền, quang thái lộ triêm thấp, kinh thước thê vị định, phi oanh quyển liêm nhập (秋空明月懸、光彩露沾濕、驚鵲棲未定、飛螢捲簾入, trời Thu trăng sáng tỏ, rực rỡ sương thấm ướt, chim khách không bến đậu, đóm bay cuộn rèm thưa).” Thi nhân Trương Cửu Linh (張九齡, 678-740) nhà Đườnglại diễn tả một sắc thái khác qua bài Vọng Nguyệt Hoài Viễn (望月懷遠): “Hải thượng sanh minh nguyệt, thiên nhai cọng thử thời, tình nhân oán dao dạ, cánh tịch khởi tương tư (海上生明月、天涯共此時、情人怨遙夜、竟夕起相思, trên biển vừng trăng sáng, bờ trời cùng lúc nầy, tình nhân đêm não nuột, trọn buổi ôm tương tư).” Trong bài Bát Nguyệt Thập Ngũ Nhật Dạ Bồn Đình Vọng Nguyệt (八月十五日夜湓亭望月), thi hào Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường đã gởi gắm cả nỗi niềm hoài vọng của ông rằng: “Tích niên bát nguyệt thập ngũ dạ, Khúc Giang trì bạn hạnh viên biên, kim niên bát nguyệt thập ngũ dạ, Bồn phố sa đầu thủy quán tiền, Tây Bắc vọng hương hà xứ thị, Đông Nam kiến nguyệt kỷ hồi viên, tạc phong nhất xuy vô nhân hội, kim dạ thanh quang tợ vãng niên (昔年八月十五夜、曲江池畔杏園邊、今年八月十五夜、湓浦沙頭水館前、西北望鄉何處是、東南見月幾回圓、昨風一吹無人會、今夜清光似往年, năm xưa đêm Rằm tháng Tám ấy, cạnh hồ Khúc Giang vườn mơ thơm, năm nay đêm Rằm tháng Tám đến, sông Bồn bãi cát quán nước còn, Tây Bắc trông quê nào chốn nhỉ, Đông Nam trăng ngắm mấy lần tròn, gió thổi hôm qua đâu ai gặp, đêm nay sáng tỏ tợ năm nào).” Vương Kiến (王建, ?-?), thi nhân nhà Đường, cũng chia xẻ cùng nỗi niềm qua bài Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt (十五夜望月): “Trung đình địa bạch thọ thê nha, lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa, kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng, bất tri Thu tư lạc thùy gia (中庭地白樹棲鴉、冷露無聲濕桂花、今夜月明人盡望、不知秋思落誰家, giữa sân nền sáng quạ trên xa, sương lạnh im lìm ướt quế hoa, đêm nay trăng tỏ người ngắm trọn, nào hay Thu niệm rụng nào nhà).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30 có đoạn rằng: “Phỉ tấn phỉ tu siêu Thập Địa, vô văn vô đắc việt Tam Kỳ, Trung Thu ngọc thố đoàn đoàn thạnh, bán dạ khuê đồng toàn toàn khuy, nhập hải ba tư tham bất dĩ, nghĩ tương từ khí hoán Ma Ni (匪進匪修超十地、無聞無得越三祇、中秋玉兔團團盛、半夜圭桐旋旋虧、入海波斯貪不已、擬將瓷器換摩尼, chẳng tiến chẳng tu qua Mười Địa, không nghe không chứng vượt Ba Kỳ, Trung Thu trăng sáng tròn vành vạnh, đêm nửa ngô đồng gió vút vi, vào biển sóng cồn tham chẳng dứt, nghĩ đem đồ sứ đổi Ma Ni).” Hay trong Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (環溪惟一禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1388) quyển Thượng lại có câu: “Kiểu khiết Trung Thu nguyệt, thanh quang xứ xứ đồng (皎潔中秋月、清光處處同, sáng rực Trung Thu nguyệt, trong vắt chốn chốn cùng).”
- Quế ảnh (桂影): chỉ bóng mặt trăng, ánh trăng. Theo Dậu Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) quyển 1, chương Thiên Chỉ (天咫) của tiểu thuyết gia Đoàn Thành Thức (段成式, 803-863) nhà Đường cho biết rằng tương truyền trên mặt trăng có một cây Nguyệt Quế (月桂) cao 500 trượng. Dưới thời nhà Hán có một người tên là Ngô Cương (吳剛), say mê về tiên đạo mà không lo chuyên tâm học tập; vì vậy Thiên Đế nổi giận, đem chàng ta giam tại cung trăng, bắt chàng phải chặt cây quế và bảo rằng nếu như chặt đỗ cây quế đó thì có thể lấy được thuốc tiên. Ngô Cương bắt đầu chặt câu quế, nhưng sau khi chặt xong một nhát đao thì vết chặt tự nhiên liền lại. Ngày qua ngày, chàng trai tận lực đốn cây quế, nhưng không thành. Cho nên, Ngô Cương vẫn còn làm công việc nầy, vì cây quế vẫn chưa ngã và người đời sau thấy hình tượng chàng thanh niên kia chặt cây quế không ngừng nghỉ. Vì vậy, hình ảnh cây quế luôn gắn liền với mặt trăng qua một số từ ngữ như quế phách (桂魄), quế điện (桂殿), quế nguyệt (桂月), v.v. Như trong bài thơ Sơn Trung Dạ Tọa Ký Cố Lí Hữu Sinh (山中夜坐寄故里友生) của Lý Hàm Dụng (李咸用, ?-?) nhà Đường có câu: “Trùng thanh xúc xúc thôi hương mộng, quế ảnh cao cao quải lữ tình (蟲聲促促催鄉夢、桂影高高掛旅情, tiếng trùng thúc giục cố hương mộng, ánh trăng cao vút chở tình xa).” Trong bài từ Chúc Anh Đài Cận (祝英台近) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh có đoạn: “Thúy yên Thu, châu lộ hạ, tinh Hán cọng tiêu sái, quế ảnh bồi hồi, bạch tuyết xán diêm ngõa (翠煙收、珠露下、星漢共瀟灑、桂影徘徊、白雪粲簷瓦, khói biếc Thu, sương châu rụng, ông sao cùng thong thả, bóng trăng bồi hồi, tuyết trắng cười ngói mái nhà).” Trong Sách Pháp Hiệu Nghĩa Biện Phúng Tụng Văn (索法號義辯諷誦文, Taishō Vol. 85, No. 2857) có câu: “Liên hoa ái nhi quế ảnh trầm huy, phương thọ điêu nhi lan tư bãi úc (蓮花靉而桂影沉暉、芳樹彫而蘭姿罷郁, hoa sen tối mà ánh trăng thầm sáng, cây thơm tàn mà dáng lan rực rỡ).”
- Thiềm quang (蟾光): tức chỉ cho ánh sáng mặt trăng, vì trong văn hóa cổ đại của Trung Quốc thường lấy con thiềm thừ (蟾蜍, con cóc) để thay thế cho mặt trăng. Cho nên cổ nhân thường dùng từ “ngân thiềm quang mãn(銀蟾光滿, trăng bạc sáng tròn).” Đạo Giáo Trung Quốc dùng chữ thiềm quang để chỉ cho huệ quang (慧光, ánh sáng trí tuệ); còn Khí Công thì chỉ cho ánh sáng vàng ròng. Trong bài thơ Khê Thượng Nguyệt (溪上月) của thi tăng Kiểu Nhiên (皎然, ?-?) nhà Đường có câu: “Thiềm quang tán phố tự, tố ảnh động luân liên (蟾光散浦溆、素影動淪漣, ánh trăng tan bến nước, bóng trắng động sóng chìm).” Hay như trong bài từ Tình Cửu Trường (情久長) của Lữ Vị Lão (呂渭老, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Tuế hoa mộ, thiềm quang xạ tuyết, bích ngõa phiêu sương, trần bất động, hàn vô tế (歲華暮、蟾光射雪、碧瓦飄霜、塵不動、寒無際, dịp cuối năm, ánh trăng bắn tuyết, ngói biếc bay sương, bụi chẳng động, lạnh vô cùng).” Trong bài Túy Bồng Lai Cửu Nguyệt Thập Bát Nhật Tây Quắc Lưu Thị Tiếu (醉蓬萊九月十八日西虢劉氏醮) của Khưu Xứ Cơ (丘處機, 1148-1227) nhà Nguyên có câu: “Nhạn ảnh trầm sa, thiềm quang chiếu dạ, huân huân đồng túy (雁影沉沙、蟾光照夜、醺醺同醉, bóng nhạn chìm cát, ánh trăng chiếu đêm, vui vẻ say mèm).” Bản Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chí Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 cũng có đoạn: “Thanh sơn lục thủy, dữ ngã hà thù, kim sanh Lệ thủy, thiềm quang mãn thái hư (青山綠水、與我何殊、金生麗水、蟾光滿太虛, núi xanh nước biếc, cùng ta khác gì, vàng sanh sông Lệ, ánh trăng khắp hư không).” Hoặc như trong Chứng Đạo Ca Tụng (證道歌頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1291) lại có câu: “Lục Độ vạn hạnh thể trung viên, chân thể vô lao biện đồng biệt, vạn thủy thiềm quang nhậm khứ lưu, kiểu kiểu thiên tâm duy nhất nguyệt (六度萬行體中圓、眞體無勞辨同別、萬水蟾光任去留、皎皎天心唯一月, Sáu Độ muôn hạnh thể tròn đầy, thật thể chẳng cần phân khác giống, muôn dòng trăng sáng mặc cuốn trôi, vằng vặc giữa trời trăng một đóa).”
- Tháng Chín Âm Lịch có tên gọi khác như Cúc Nguyệt (菊月), Thọ Y Nguyệt (授衣月), Thanh Nữ Nguyệt (青女月), Tiểu Điền Nguyệt (小田月), Bác Nguyệt (剝月), Quán Nguyệt (貫月), Sương Nguyệt (霜月), Trưởng Nguyệt (長月), Tuất Nguyệt (戌月), Hủ Nguyệt (朽月), Vịnh Nguyệt (詠月), Huyền Nguyệt (玄月), Nỉ Giác Nguyệt (禰覺月), Cúc Khai Nguyệt (菊開月), Hồng Diệp Nguyệt (紅葉月), Quý Thu (季秋), Mộ Thu (暮秋), Vãn Thu (晚秋), Cúc Thu (菊秋), Thu Mạt (秋末), Tàn Thu (殘秋), Lương Thu (涼秋), Tố Thu (素秋), Ngũ Âm Nguyệt (五陰月), Cùng Thu (窮秋), Diểu Thu (杪秋), Thu Thương (秋商), Mộ Thương (暮商), Quý Bạch (季白), Vô Xạ (無射), Sương Tự (霜序), Lương Nguyệt (涼月), Tam Thu (三秋), Quý Thương (季商), Cúc Tự (菊序). Một số câu hay cho tháng Chín như hà bàn lạc thúy (荷盤落翠, gương sen không còn sắc xanh biếc), phong cảnh phiêu hồng (楓景飄紅, cảnh cây phong phất phơ màu hồng), giang phong huyến cẩm (江風絢錦, gió sông rực rỡ gấm), ly cúc thư kim (籬菊舒金, cúc bờ rào phô màu vàng óng). Một số từ dùng cho tiết Trùng Dương (重陽) như Tam Thu hầu túc (三秋候足, khí tiết Ba Thu vừa đủ), vạn bảo cáo thành (萬寶告成, muôn điều quý báu đã thành), hoàng hoa mãn kính (黃花滿徑, hoa vàng khắp lối), hồng diệp doanh câu (紅葉盈溝, lá đỏ đầy rãnh nước), thư truyền tặng cúc (書傳贈菊, thư truyền đi tặng hoa cúc), Mạnh Gia lạc mạo (孟嘉落帽, Mạnh Gia rơi mũ), Hoàn Cảnh đăng cao (桓景登高, Hoàn Cảnh lên núi cao), sương lăng cúc nhị (霜淩菊蕊, sương thấm nhụy hoa cúc), tửu túy Thù Du (酒醉茱萸, rượu say Thù Du). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như cùng thanh bi thiết (蛩聲悲切, tiếng dế buồn da diết), nhạn trận hoành không (雁陣橫空, nhạn dàn trận trên không).
- Cúc Nguyệt (菊月): tên gọi khác của tháng Chín Âm Lịch. Tại Trung Quốc, vào tháng nầy đúng lúc hoa Cúc nở rộ, nên có tên gọi như vậy. Như trong Pháp Hoa Kinh Đại Thành Khoa (法華經大成科, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 618) có câu: “Thời Khang Hy tuế tại Bính Tuất Cúc Nguyệt cửu nhật, Lí đệ Duy Huyễn bái soạn (時康熙歲在丙戌菊月九日、里弟惟鉉拜撰, lúc bấy giờ đời vua Khang Hy, ngày mồng 9 tháng 9 năm Bính Tuất [1706], Lí đệ Duy Huyễn lạy soạn).” Hay trong phần Tuy Lý Minh Tâm Phật Âm Ni (檇李明心佛音尼) của Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 5 cũng có câu: “Giáp Dần Cúc Nguyệt kí vọng, mộc dục đoan tọa, thuyết kệ nhi hóa (甲寅菊月旣望、沐浴端坐、說偈而化, vào ngày 16 tháng 9 năm Giáp Dần, cô tắm rửa, ngồi ngay ngắn, nói kệ rồi ra đi).”
- Tiết Trùng Dương (重陽節): nhằm ngày mồng 9 tháng 9 Âm Lịch; do vì trùng cả hai số 9 nên được gọi là Trùng Cửu (重九). Trong quan niệm về âm dương của Đạo Gia, có 6 âm và 9 dương; 9 là số dương. Vào ngày nầy, trong dân gian có tục lệ lên núi cao, nên Tiết Trùng Dương còn có tên là Đăng Cao Tiết (登高節) và một số tên gọi khác như Trùng Cửu Tiết (重九節), Thù Du Tiết (茱萸節), Cúc Hoa Tiết (菊花節), v.v. Ngoài ra, do vì ngày mồng 9 tháng 9 có âm đọc là “cửu cửu (九九)”, trùng âm với “cửu cửu (久久)”, nghĩa là “trường cửu, lâu dài”; cho nên cũng nhân ngày nầy người ta tiến hành cúng tế tổ tiên và hoạt động Kính Lão. Về nguồn gốc của Tiết Trùng Dương, có nhiều thuyết khác nhau. (1) Trong Tục Tề Hài Ký (續齊諧記) của Ngô Quân Chi (吳均之, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều thuật lại rất rõ rằng vào thời Đông Hán (東漢, 25-220), tại huyện Nhữ Nam (汝南縣) có một người tên là Hoàn Cảnh (桓景). Địa phương anh ấy ở bỗng nhiên phát sinh ôn dịch lớn, cũng vì đó mà song thân anh bị bệnh chết, nên anh đến ngọn núi phía Đông Nam cầu thầy học đạo. Lúc bấy giờ, tiên nhân Phí Trường Phòng (費長房) ban cho anh nầy một cây Hàng Yêu Thanh Long Kiếm (降妖青龍劍). Từ đó, Hoàn Cảnh thức khuya dậy sớm, trải qua ngày tháng, chăm học khổ luyện. Một hôm nọ, Phí Trường Phòng kêu anh đến và bảo rằng: “Ngày mồng 9 tháng 9, con ma dịch bệnh lại đến, con có thể trở về để trừ hại cho muôn dân.” Rồi ông cho Hoàn Cảnh một bao lá cây Thù Du (茱萸), một bình rượu Hoa Cúc, khuyên dân làng của anh nên lên núi cao mà tránh tai họa. Vâng lời thầy, anh trở về quê cũ, đến ngày mồng 9 tháng 9, anh dẫn toàn bộ vợ con cùng với những người trong làng lên một ngọn núi cao gần đó. Rồi anh lấy lá Thù Du chia cho mọi người mang tùy thân để ngăn ngừa ma dịch bệnh không cho đến gần; kế đến lại mang rượu Hoa Cúc ra, mỗi người uống một hớp để đề phòng bị nhiễm bệnh. Hoàn Cảnh cùng ma dịch bệnh đánh nhau và cuối cùng giết được nó. Từ đó, bá tánh hai bên bờ sông Nhữ Hà (汝河) lấy câu chuyện leo lên núi cao tránh họa vào ngày mồng 9 tháng 9 và Hoàn Cảnh dùng kiếm giết ma dịch bệnh truyền tụng cho đến ngày nay. Một số tác phẩm như Sơ Học Ký (初學記) thời nhà Đường (唐, 618-907), Thái Bình Ngự Lãm (太平禦覽) thời nhà Tống (宋, 960-1279), v.v., đều có thuật lại câu chuyện của Hoàn Cảnh trong Tục Tề Hài Ký, công nhận các tập tục lên núi cao, uống rượu Hoa Cúc, người nữ đeo túi Thù Du nơi cánh tay để trừ khử tà khí nhân dịp mồng 9 tháng 9, đều từ câu chuyện trên mà ra. (2) Trong Tây Kinh Tạp Ký (西京雜記) của Lưu Hâm (劉歆, 50-23 ttl) nhà Hán cho rằng người ái thiếp của Hán Thái Tổ Cao Hoàng Đế Lưu Bang (漢太祖高皇帝劉邦, tại vị 202ttl-195ttl) là Thích phu nhân bị Lữ Hậu (呂后) hại chết; sau đó Giả Bội Lan (賈佩蘭), thị nữ của bà, cũng bị trục xuất ra khỏi cung, rồi lấy chàng trai phong lưu tên Đoàn Nho (段儒). Mỗi khi hai người ngồi nói chuyện nhàn hạ, đều đề cập đến những tập tục trong cung nội như mỗi năm vào ngày mồng 9 tháng 9 đều có đeo bên mình lá Thù Du, ăn Bánh Bồng (蓬餌), uống rượu Hoa Cúc để trị tà và sống lâu. (3) Sách Phong Thổ Ký (風土記) lại ghi rằng vào cuối đời nhà Hạ (2205-1818 ttl), vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng Đế muốn răn nhà vua nên giáng một trận thủy tai làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Nạn thủy tai đó nhằm ngày mồng 9 tháng 9. Vì vậy, mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn. (4) Trong Truyện Vương Bột (王勃傳) của Cựu Đường Thư (舊唐書) có ghi rằng bài Tựa Đằng Vương Các (滕王閣序) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường được viết nhân Tiết Trùng Dương nầy. Đương thời phụ thân Vương Bột làm quan ở Giao Chỉ (交趾), ông lên đường đến thăm cha; vào ngày mồng 9 tháng 9 chỉ mới đi qua Nam Xương (南昌). Lúc bấy giờ, vị quan Châu Mục của Hồng Châu (洪州) là Diêm Bá Tự (閻伯嶼) đang mời quan khách, thuộc hạ của ông đến dự yến tiệc trùng tu Đằng Vương Các (滕王閣); nhân đó khoe khoang với mọi người về tài trí của người con rễ Ngô Tử Chương (吳子章), rồi mời quan khách viết bài tựa cho Đằng Vương Các. Ai cũng biết dụng ý của ông, nên chẳng người nào dám viết cả. Chỉ có mình Vương Bột không biết, bèn tự nhiên tiếp bút viết liền. Quan Châu Mục thấy trong lòng sảng khoái, lập tức sai người đứng hai bên xem Vương Bột viết. Không ngờ Vương Bột tài khí phi phàm, văn chương lưu loát, bất ngờ đến câu: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cọng trường thiên nhất sắc (落霞與孤鶩齊飛、秋水共長天一色, ráng chiều cùng vịt trời đều bay, nước thu với trời xanh một sắc)”, quan Châu Mục không chịu được nữa bèn thốt lên rằng: “Tuyệt hảo !” Và từ đó, Vương Bột nổi danh trong thi đàn. Một số phong tục chính lưu hành cho đến ngày nay nhân dịp Trùng Cửu nầy như lên núi cao thưởng ngoạn, ngắm hoa Cúc cũng như uống rượu Hoa Cúc, mang túi lá Thù Du, thả diều, ăn Bánh Ngọt Trùng Dương, hoạt động Kính Lão, cúng tế tổ tiên, v.v. Riêng tại Trung Quốc, lại có vài tập tục đặc biệt khác như cúng tế Na Tra Tam Thái Tử (哪吒三太子), bắn cung, v.v. Tại Hàn Quốc, có các tập tục như ăn bánh hoa, thả diều, thi đua làm bánh hoa, v.v. Tại Nhật Bản, vào ngày nầy người dân thường ăn loại Cà Tím, ăn Hạt Dẻ, lễ Hội Hoa Cúc, v.v. Tiết Trùng Dương cũng là một đề tài phong phú, hấp dẫn cho các thi hào văn sĩ, như Cửu Nhật Đăng Lý Minh Phủ Bắc Lâu (九日登李明府北樓) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780), thi nhân nhà Đường, có đoạn: “Cửu nguyệt đăng cao vọng, thương thương viễn thọ đê, nhân yên hồ thảo lí, sơn thúy hiện lâu Tây (九月登高望、蒼蒼遠樹低、人煙湖草裡、山翠現樓西, tháng Chín lên cao ngắm, xanh um cây rạp đầu, khói vương hồ cỏ rậm, núi biếc hiện Tây lầu).” Thiệu Đại Chấn (邵大震, ?-?), thi nhân nhà Đường, người đồng thời với Vương Bột có làm bài Cửu Nhật Đăng Huyền Võ Sơn Lữ Thiếu (九日登玄武山旅眺): “Cửu nguyệt cửu nhật vọng diêu không, Thu thủy Thu thiên sanh tịch phong, hàn nhạn nhất hướng nam phi viễn, du nhân kỉ độ cúc hoa tùng (九月九日望遙空、秋水秋天生夕風、寒雁一向南飛遠、遊人幾度菊花叢, mồng chín tháng chín ngắm trời không, nước Thu trời Thu sanh gió vương, nhạn bay một hướng về Nam tít, du nhân mấy độ hoa cúc mừng).” Hay như trong bài thơ Cửu Nguyệt Thập Nhật Tức Sự (九月十日卽事) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Tạc nhật đăng cao bãi, kim triêu tái cử thương, Cúc hoa hà thái khổ, tao thử lưỡng Trùng Dương (昨日登高罷、今朝再舉觴、菊花何太苦、遭此兩重陽, hôm qua lên núi nghỉ chơi, sáng nay lại nhấc chén mời uống say, hoa Cúc nào có vị cay, gặp nhau hai bận cũng ngày Trùng Dương).” Thi hào Vương Duy (王維, 701-761) cũng có bài Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh Đệ (九月九日憶山東兄弟) rất nổi tiếng: “Độc tại dị hương vi dị khách, mỗi phùng giai tiết bội tư thân, diêu tri huynh đệ đăng cao xứ, biến tháp Thù Du thiểu nhất nhân (獨在異鄉爲異客、每逢佳節倍思親、遙知兄弟登高處、遍插茱萸少一人, mình chốn tha phương làm lữ khách, mỗi khi tiết đẹp nhớ người thân, xa biết anh em lên cao chốn, ngắt cánh Thù Du chỉ riêng ta)”, v.v. Trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16 có câu: “Tam Huyền Tam Yếu sự nan phân, đắc ý vong ngôn đạo dị thân, nhất cú minh minh cai vạn tượng, Trùng Dương cửu nhật Cúc hoa tân (三玄三要事難分、得意忘言道易親、一句明明該萬象、重陽九日菊花新, Ba Huyền Ba Yếu chuyện khó phân, đắc ý quên lời đạo dễ gần, sáng tỏ một câu trùm vạn tượng, Trùng Dương mồng chín Cúc hoa xinh).” Hay trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 31 lại có câu rằng: “Trùng Dương hoàng cúc vị thành hoa, lạc mạo vô lao ức Mạnh Gia, đản đắc thanh sơn thường tại nhãn, bất phương lưu thủy khứ vô nhai (重陽黃菊未成花、落帽無勞憶孟嘉、但得青山常在眼、不妨流水去無涯, Trùng Dương vàng Cúc chửa thành hoa, rớt mũ đâu màng nhớ Mạnh Gia, biết rõ núi xanh thường trước mắt, ngại gì nước chảy chẳng bến bờ).”
- Tháng Mười Âm Lịch có tên gọi khác như Dương Nguyệt (陽月), Hợi Nguyệt (亥月), Cát Nguyệt (吉月), Lương Nguyệt (良月), Khôn Nguyệt (坤月), Chánh Dương Nguyệt (正陽月), Tiểu Dương Xuân (小陽春), Thần Vô Nguyệt (神無月), Thập Nguyệt (拾月), Thời Vũ Nguyệt (時雨月), Sơ Sương Nguyệt (初霜月), Ứng Chung (應鐘, 應鍾), Sơ Đông (初冬), Mạnh Đông (孟冬), Thượng Đông (上冬), Khai Đông (開冬), Huyền Đông (玄冬), Huyền Anh (玄英), Tiểu Xuân (小春), Đại Chương (大章), Thỉ Băng (始冰), Cực Dương (極陽), Dương Chỉ (陽止), Mạnh Đông (孟冬), Nguyên Đông (元冬), Tiểu Lương (小良), Ứng Nguyệt (應月), Lập Nguyệt (立月), Tiểu Hòa Xuân (小和春), Âm Nguyệt (陰月), Lộ Nguyệt (露月), Phi Âm Nguyệt (飛陰月). Một số câu hay cho tháng Mười như Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, Mai truyền ý Xuân), Cúc ngạo sương chi (菊傲霜枝, Cúc ngạo nghễ cành sương), hàn uy vị chấn (寒威未振, uy lực cái lạnh chưa đến nỗi), ái cảnh sơ khai (愛景初開, cảnh đẹp mới bày), đấu tiêu chỉ Bắc (鬥杓指北, chuôi sao về hướng Bắc), nhật ảnh hồi Nam (日影回南, bóng mặt trời trở về hướng Nam), nhật lâm chiết mộc (日臨折木, mặt trời đến bẻ cây), Nam chi nhật noãn (南枝日暖, cành Nam mặt trời ấm), Đông các hàn khinh (東閣寒輕, gác Đông se lạnh), hòa khí như Xuân (和氣如春, khí trời ôn hòa như mùa Xuân). Một số từ dùng cho Lập Đông (立冬) như nguyên anh khải tú (元英啟秀, hoa cỏ khởi sắc), sương lăng Mai nhụy (霜淩梅蕊, sương thấm nhụy hoa Mai), tuyết ngạo sương chi (雪傲霜枝, tuyết cười ngạo cành sương), Dương Xuân tương Hạ (陽春將夏, tháng Mười như Hè), Xuân ý phương xa (春意方賒, ý Xuân còn xa). Một số từ dùng cho tháng Mười nhuận như Tiểu Dương dư nhuận (小陽餘閏, tháng Mười còn nhuận), Dương Nguyệt tăng trưởng (陽月增長, tháng Mười kéo dài). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như phong mộc thanh phân (風木聲分, tiếng gió cây rã rời), tuyết sơn dung lão (雪山容老, dáng núi tuyết già cỗi).
- Dương Nguyệt (陽月): tên gọi khác của tháng 10 Âm Lịch, vì tháng nầy thuộc về Tiểu Dương Xuân (小陽春), nên có tên như vậy. Như trong Quan Âm Kinh Phổ Môn Phẩm Phu Thuyết (觀音經普門品膚說, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 35, No. 647) có câu: “Mậu Ngọ Dương Nguyệt Gia Hòa Trí Giác Giáo Tự Tỳ Kheo Linh Diệu tự (戊午陽月嘉禾智覺敎寺比丘靈耀序, vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, Tỳ Kheo Linh Diệu ở Trí Giác Giáo Tự vùng Gia Hòa ghi lời tựa).” Hay trong Hóa Châu Bảo Mạng Chơn Kinh (化珠保命眞經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 25) cũng có câu: “Vạn Lịch Kỷ Dậu Dương Nguyệt cát đán Mân Vương Hanh Trọng huân mộc bái tử (萬曆己酉陽月吉旦閩王亨仲熏沐拜梓, vào sáng sớm tốt lành tháng 10 năm Kỷ Dậu [1609] niên hiệu Vạn Lịch, vua nhà Mân là Hanh Trọng xông hương, tắm rửa, lạy khắc).”
- Mạnh Đông (孟冬): chỉ cho tháng đầu tiên của mùa Đông, tức tháng 10 Âm Lịch. Một số thi từ liên quan đến từ Mạnh Đông nầy như trong bài Bộ Xuất Hạ Môn Hành (步出夏門行), phần Đông Thập Nguyệt (冬十月) của Tào Tháo (曹操, 155-220) có câu: “Mạnh Đông thập nguyệt, Bắc phong bồi hồi (孟冬十月、北風徘徊, đầu Đông tháng Mười, gió Bắc bồi hồi).” Trong bài thơ Thư Dị (書異) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Mạnh Đông sơ hàn nguyệt, chử trạch bồ thượng thanh (孟冬初寒月、渚澤蒲尚青, Mạnh Đông tháng mới lạnh, cỏ bên đầm còn xanh).” Hay trong bài Minh Binh Bộ Thượng Thư Tiết Hoàn Viên Công Mộ Chí Minh (明兵部尚書節寰袁公墓誌銘) của Khổng Trinh Vận (孔貞運, 1574-1644) nhà Minh lại có đoạn: “Chí Mạnh Đông nguyệt, hốt Tây Nam hữu cự tinh trụy địa, nhi công khạp nhiên thệ hỉ (至孟冬月、忽西南有巨星墜地、而公溘然逝矣, đến tháng 10, chợt phía Tây Nam có ngôi sao lớn rơi xuống đất, rồi ông [Viên Khả Lập] đột nhiên qua đời vậy).” Trong Phật Tổ Tông Phái Thế Phổ (佛祖宗派世譜, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1602) cũng có đoạn: “Uyên Hồ Diệu Dụng, Hải Diêm Trịnh thị tử, sanh vu Vạn Lịch Đinh Hợi niên, Sùng Trinh Nhâm Ngọ Mạnh Đông thập nhất nhật thư kệ nhi thệ, tháp Hưng Thiện Phổ Minh (鴛湖妙用、海鹽鄭氏子、生于萬曆丁亥年、崇禎壬午孟冬十一日書偈而逝、塔興善普明, Uyên Hồ Diệu Dụng, con nhà họ Trịnh ở Hải Diêm, sanh vào năm Đinh Hợi [1587] niên hiệu Vạn Lịch; vào ngày 11 tháng 10 năm Nhâm Ngọ [1642] niên hiệu Sùng Trinh, ông viết kệ rồi qua đời; tháp tên Phổ Minh ở Chùa Hưng Thiện).” Hay trong Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1126) quyển 1 lại có câu: “Thiên Khải Quý Hợi Mạnh Đông sóc đán Tam Phong Bồ Tát Giới đệ tử Pháp Tạng thư vu Bắc Thiền Tự Cấm Oa Đường trung (天啟癸亥孟冬朔旦三峰菩薩戒弟子法藏書于北禪寺禁蛙堂中, vào sáng mồng một tháng 10 năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải, đệ tử thọ Bồ Tát Giới ở Tam Phong tên Pháp Tạng viết trong Cấm Oa Đường của Bắc Thiền Tự).”
- Tam Dương (三陽): Dịch Học Tượng Số thời nhà Hán lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Trong đó, tháng 10 là quẻ Khôn (坤卦), thuần về hào âm; tháng 11 là quẻ Phục (復卦), một dương sanh bên dưới; tháng 12 là quẻ Lâm (臨卦), hai dương sanh bên dưới; tháng Giêng là quẻ Thái (泰卦), ba dương sanh bên dưới. Lúc nầy âm dần tiêu, dương dần tăng trưởng, có ý là vạn sự vạn vật đều đổi mới. Cho nên, sau nầy người ta thường dùng từ Tam Dương khai thái (三陽開泰), Tam Dương giao thái (三陽交泰) để xưng tụng, chúc mừng đầu năm mới hoặc ngụ ý cát tường, tốt đẹp. Như trong tờ Hạ Nguyên Đán Biểu (賀元旦表) của Trương Cư Chánh (張居正, 1525-1582) nhà Minh có đoạn: “Tư giả đương Tam Dương khai thái chi hầu, chánh vạn vật xuất chấn chi thời, khí chuyển hồng quân, cọng lạc Nghiêu thiên chi hóa nhật (茲者當三陽開泰之候、正萬物出震之時、氣轉鴻鈞、共樂堯天之化日, nay gặp lúc khí tiết đầu xuân tốt đẹp, đúng phải lúc vạn vật chuyển mình, khí rung đất trời, cùng vui ngày chuyển hóa dưới trời vua Nghiêu).” Hay trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 11 có câu: “Tam Dương giao thái, vạn vật hàm tân, hiển nhất chân chi diệu dụng, tổng tạo hóa chi uyên nguyên, trần trần hợp đạo, xứ xứ thông tân, pháp diên đại khải, giác uyển hoằng khai (三陽交泰、萬物咸新、顯一眞之妙用、總造化之淵源、塵塵合道、處處通津、法筵大啟、覺苑弘開, đầu xuân an thái, muôn vật mới toanh, lộ nguồn chơn ấy diệu dụng, thảy tạo hóa ấy uyên nguyên, nơi nơi hợp đạo, chốn chốn thấm nhuần, cỗ pháp rộng mở, vườn giác phô bày).”
- Tháng Mười Một Âm Lịch có tên gọi khác như Trọng Đông (仲冬), Trung Đông (中冬), Chánh Đông (正冬), Sướng Nguyệt (暢月), Sương Nguyệt (霜月), Sương Kiến Nguyệt (霜見月), Tý Nguyệt (子月), Cô Nguyệt (辜月), Gia Nguyệt (葭月), Chỉ Nguyệt (紙月), Phục Nguyệt (復月), Thiên Chánh Nguyệt (天正月), Nhất Dương Nguyệt (一陽月), Quảng Hàn Nguyệt (廣寒月), Long Tiềm Nguyệt (龍潛月), Tuyết Nguyệt (雪月), Hàn Nguyệt (寒月), Hoàng Chung (黃鐘, 黃鍾), Dương Phục (陽復), Dương Tế (陽祭), Băng Tráng (冰壯), Tam Chí (三至), Á Tuế (亞歲), Trung Hàn (中寒), Trọng Nguyệt (仲月), Phức Nguyệt (複月), Long Tiềm (龍潛), Long Đông (隆冬), Hỷ Nguyệt (喜月). Một số câu hay cho tháng Mười Một như nhật hành Bắc lục (日行北陸, mặt trời đi về đất Bắc), Xuân đáo Nam chi (春到南枝, Xuân đến trên cành Nam), thiên hàn dục tuyết (天寒欲雪, trời lạnh tuyết sắp rơi), Xuân ý tại Mai (春意在梅, ý Xuân ở cây Mai), hàn sương điểm tuyết (寒霜點雪, sương lạnh lấm chấm tuyết), đống nghiễn ha băng (凍硯呵冰, nghiên mực đóng băng phun tuyết), Mai thổ Nam chi (梅吐南枝, Mai nở cành Nam), ngân hà phiêu tuyết (銀河飄雪, sông ngân thổi tuyết), ngọc vũ phi sương (玉宇飛霜, nhà ngọc bay sương), Tam Dương trình thụy (三陽呈瑞, Xuân đến bày điềm lành), Lục Bạch triệu phong (六白兆豐, Lục Bạch [tượng trưng cho Càn, tức là trời] thể hiện điềm phong phú), Nhất Dương lai phức (一陽來複, tháng 11 lại đến nữa), vạn gia chiêu hồi (萬家昭回, muôn nhà trở lại sáng sủa).
- Gia Nguyệt (葭月): cổ nhân gọi tháng 11 Âm Lịch là Gia Nguyệt, vì vào tháng nầy loại cỏ lau bắt đầu nở hoa. Hoa lau có màu nâu xám đong đưa trong gió lạnh, thể hiện sự thê lương, giá buốt của thời tiết cuối năm. Người ta thường lấy cây lau làm củi dự trữ dùng cho lúc tuyết đóng băng; cho nên cũng có thể vì lý do nầy mà có tên gọi Gia Nguyệt. Trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) có câu rằng: “Đông Chí đáo nhi gia hôi phi, Lập Thu chí nhi ngô diệp lạc (冬至到而葭灰飛、立秋至而梧葉落, Đông Chí đến mà tro lau bay, Lập Thu đến cho lá ngô rụng).”
- Trọng Đông (仲冬): giữa Đông, tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Như trong bài Đại Từ Ân Tự Đại Pháp Sư Cơ Công Tháp Minh (大慈恩寺大法師基公塔銘) của Huyền Trang Tam Tạng Sư Tư Truyện Tùng Thư (玄奘三藏師資傳叢書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1651) quyển Hạ có câu: “Hoàng Đường Vĩnh Thuần nguyên niên Trọng Đông Nhâm Dần nhật, tốt ư Từ Ân Tự Phiên Dịch Viện, hữu sinh ngũ thập nhất tuế dã (皇唐永淳元年仲冬壬寅日、卒於慈恩寺翻譯院、有生五十一歲也, vào ngày Nhâm Dần tháng 11 năm đầu [682] niên hiệu Vĩnh Thuần nhà Đường, Cơ Công qua đời tại Viện Phiên Dịch của Từ Ân Tự, sống được 51 tuổi).” Hay trong Hàng Châu Thiên Mục Bảo Phương Tấn Thiền Sư (杭州天目寶芳進禪師) của Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 lại có câu: “Chánh Đức thập tứ niên Trọng Đông trấp tứ nhật, thuyết kệ biệt chúng, Trà Tỳ đắc ngũ sắc Xá Lợi vô số, tháp ư bản sơn (正德十四年仲冬廿四日、說偈別眾、茶毗得五色舍利無數、塔於本山, vào ngày 24 tháng 11 năm thứ 14 [1519] niên hiệu Chánh Đức nhà Minh, Thiền Sư nói kệ từ giã mọi người, sau khi Trà Tỳ xong có được Xá Lợi năm sắc vô số, tháp dựng tại chùa).” Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295), quyển 8, Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲, 1089-1163) có bài tụng rằng: “Mã sư Trọng Đông nghiêm hàn, Khâm sư Mạnh Hạ tiệm nhiệt, tuy nhiên hàn nhiệt bất đồng, bỉ thử bất thất thời tiết (馬師仲冬嚴寒、欽師孟夏漸熱、雖然寒熱不同、彼此不失時節, Mã Tổ giữa Đông lạnh buốt, Đạo Khâm đầu Hạ dần nóng, tuy nhiên lạnh nóng chẳng đồng, kia đây không mất thời tiết).”
- Gia phi ngọc quản (葭飛玉管): Gia phi (葭飛) nghĩa là tro cây lau bay tan đi. Có thuật ngữ thường dùng là “xuy gia (吹葭)”. Đây là một phương pháp suy định khí hậu thời cổ đại. Người ta lấy tro của cái mạng mỏng trong thân cây lau, đem trấn bên trong khí cụ Luật Quản (律管, 律琯), khi hơi thổi đến thì tro tan đi. Như trong bài thơ Tiểu Chí (小至) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Thích tú ngũ văn thiêm nhược tuyến, xuy gia lục quản động phi hôi (刺繡五紋添弱線、吹葭六琯動飛灰, thêu gấm năm vân thêm chỉ mỏng, thổi lau khí cụ động tro bay).” Ngọc quản (玉管) ở đây là một loại khí cụ Luật Quản, dùng để thẩm định âm tiết thời xưa, được chế bằng ngọc; còn gọi là Lục Quản (六琯, 六管). Người ta thường dùng ống trúc hoặc loại chế bằng kim thuộc để tạo thành. Như trong tác phẩm Lục Thao (六韜), chương Ngũ Âm (五音) có giải thích rằng: “Phù Luật Quản thập nhị, kỳ yếu hữu ngũ âm, Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ (夫律管十二、其要有五音、宮、商、角、徵、羽, phàm Luật Quản có mười hai loại, chủ yếu có năm âm là Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ).” Bên cạnh đó, đây cũng là một loại khí cụ dùng để trắc lượng sự thay đổi của thời tiết thời cổ đại. Như trong chương Tượng Số (像數) của Mộng Khê Bút Đàm (夢溪筆談) có dẫn một đoạn trong Tục Hán Thư (續漢書) của Tư Mã Bưu (司馬彪, 243-306) nhà Tấn rằng: “Hầu khí chi pháp, ư mật thất trung, dĩ mộc vi án, trí thập nhị Luật Quản, các như kỳ phương, thật dĩ gia hôi, phú dĩ đề hộc, khí chí tắc nhất luật phi hôi (候氣之法、於密室中、以木爲案、置十二律琯、各如其方、實以葭灰、覆以緹縠、氣至則一律飛灰, cách trắc lượng khí hậu, tại trong phòng kín, lấy gỗ làm bàn, đặt 12 ống Luật Quản lên, mỗi thứ đúng phương hướng của nó, lấy tro mạng mỏng cây lau, bít bằng loại vải sa đỏ, khi hơi thổi đến thì một ống Luật thổi bay tro).” Trong bài thơ Bảo Đại Ngũ Niên Nguyên Nhật Đại Tuyết Đăng Lâu Phú (保大五年元日大雪登樓賦) của Lý Cảnh (李璟, 916-961) nhà Đường có câu: “Xuân khí tạc tiêu phiêu Luật Quản, Đông phong kim nhật phóng Mai hoa (春氣昨宵飄律管、東風今日放梅花, khí Xuân đêm trước thổi Luật Quản, hôm nay Đông gió thả hoa Mai).”
- Tháng Mười Hai Âm Lịch có tên gọi khác như Lạp Nguyệt (臘月), Trừ Nguyệt (除月), Sửu Nguyệt (丑月), Nghiêm Nguyệt (嚴月), Băng Nguyệt (冰月), Dư Nguyệt (餘月), Cực Nguyệt (極月), Đồ Nguyệt (塗月), Địa Chánh Nguyệt (地正月), Nhị Dương Nguyệt (二陽月), Gia Bình Nguyệt (嘉平月), Tam Đông Nguyệt (三冬月), Mai Sơ Nguyệt (梅初月), Xuân Đãi Nguyệt (春待月), Quý Đông (季冬), Mộ Đông (暮冬), Vãn Đông (晚冬), Diểu Đông (杪冬), Cùng Đông (窮冬), Hoàng Đông (黃冬), Lạp Đông (臘冬), Tàn Đông (殘冬), Mạt Đông (末冬), Nghiêm Đông (嚴冬), Sư Tẩu (師走), Đại Lữ (大呂), Tinh Hồi Tiết (星回節), Ân Chánh (殷正), Thanh Tự (清祀), Đông Tố (冬素), Xú Nguyệt (醜月), Gia Bình (嘉平), Tuế Diểu (歲杪), Cửu Đông (九冬), Nghiêm Hàn (嚴寒), Tuế Nguyệt (歲月), Mạt Nguyệt (末月). Một số câu hay cho tháng Mười Hai như tiêu thương tiễn lạp (椒觴餞臘, chén rượu tiêu tiễn cuối năm), mai tín truyền Xuân (梅信傳春, tin cây Mai truyền mùa Xuân đến), cẩm diên thủ tuế (錦筵守歲, tiệc gấm đón năm mới), họa các nghênh Xuân (畫閣迎春, gác vẽ tranh hoa lệ đón Xuân), Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, cành Mai truyền ý Xuân), tuyết triệu phong niên (雪兆豐年, tuyết có điềm cho biết năm mới phong phú), khúc tấu Lương Viên (曲奏梁園, tấu khúc Lương Viên), Tây sơn tuyết tễ (西山雪霽, núi Tây tuyết tan), Đông các Mai hương (東閣梅香, gác Đông thơm hoa Mai), hàn tùy lạp khứ (寒隨臘去, lạnh theo cuối năm đi), noãn trục Xuân lai (暖逐春來, hơi ấm cùng mùa Xuân đến), Mai ngạc truyền Xuân (梅萼傳春, đài hoa Mai truyền sắc Xuân), tuế trừ kim tịch (歲除今夕, năm hết đêm nay), Xuân nhập tân niên (春入新年, Xuân vào năm mới), pháo thôi tàn lạp (炮催殘臘, pháo thúc giục cuối năm còn sót), Mai báo tảo Xuân (梅報早春, Mai báo Xuân sớm), nhất niên tương tận (一年將盡, một năm sắp hết), tứ quý vân chung (四季雲終, bốn mùa chấm dứt). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng nầy như tinh hồi nguyệt triển (星回月展, sao lùi trăng hiện), phong thảm vân sầu (風慘雲愁, gió thảm mây buồn), diêm khuynh trường lệ (簷傾長淚, mái nghiêng ngấn lệ), thủy kết đôi băng (水結堆冰, nước kết băng trôi). Một số từ dùng cho tháng Mười Hai nhuận như nhuận dĩ thành tuế (潤以成歲, nhuận đã thành năm), hàn bách chu niên (寒迫周年, lạnh đuổi theo trọn năm).
- Lạp Nguyệt (臘月、蠟月): tên gọi khác của tháng 12 Âm Lịch. Cách gọi như vậy có liên quan rất lớn với mùa màng tự nhiên, chủ yếu là với việc cúng tế trong năm. Từ lạp (臘) ở đây vốn là tên của một lễ tế cuối năm. Bộ Phong Tục Thông Nghĩa (風俗通義) của Ứng Thiệu (應劭, khoảng 153-196) nhà Hán giải thích rằng: “Hạ viết Gia Bình, Ân viết Thanh Tự, Chu dụng Đại Lạp, Hán cải vi Lạp. Lạp giả, lạp dã, ngôn điền lạp thủ cầm thú, dĩ tế tự kỳ tiên tổ dã (夏曰嘉平、殷曰清祀、周用大蠟、漢改爲臘、臘者、獵也、言田獵取禽獸、以祭祀其先祖也, nhà Hạ gọi là Gia Bình, nhà Ân gọi là Thanh Tự, nhà Chu dùng chữ Đại Lạp, nhà Hán đổi thành Lạp. Lạp nghĩa là săn bắn, tức săn bắn cầm thú, để cúng tế tổ tiên vậy).” Hay cho rằng: “Lạp giả, tiếp dã; tân cố giao tiếp, cố đại tế dĩ báo công dã (臘者、接也、新故交接、故大祭以報功也, Lạp nghĩa là hội họp; vì năm mới nên giao tiếp, cho nên cúng tế lớn để báo công vậy).” Nhân tháng 12 nầy thường có lễ cúng tế lớn nên được gọi là “Tháng Cúng Tế”. Người Tần gọi lễ Tế Thần vào cuối năm là Lạp. Tháng 12 là tháng cuối cùng của một năm, đúng vào tiết Đông giá buốt. Ngạn ngữ dân gian có câu: “Lạp thất, Lạp Bát, đống trạo hạ ba (臘七、臘八、凍掉下巴, mồng bảy tháng Chạp, mồng 8 tháng Chạp, lạnh buốt xương tủy)”; để diễn tả cái lạnh tột cùng âm 20 độ C, mọi công việc đồng án đều phải đình trệ; cho nên tháng Chạp còn được gọi là Đông Nhàn (冬閑, mùa Đông nhàn hạ). Dưới thời nhà Chu, bất luận nhà quan quyền hay bá tánh thường dân, mỗi nhà đều phải cử hành lễ gọi là “tuế chung chi tế (歲終之祭, cúng cuối năm)”, rất long trọng, rầm rộ nhất trong năm; lễ cúng đó gọi là Lạp. Trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷), quyển Hạ của Thái Ung (蔡邕, 132-192) nhà Đông Hán có ghi rằng: “Lạp giả, tuế chung đại tế (臘者、歲終大祭, Lạp nghĩa là cúng tế lớn cuối năm).” Hay như tác phẩm Ngọc Chúc Bảo Điển (玉燭寶典) của Đỗ Đài Khanh (杜臺卿, ?-?) nhà Tùy cũng ghi là: “Lạp, nhất tuế chi đại tế (臘、一歲之大祭, Lạp là lễ tế lớn trong một năm).” Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) do Tông Lẫm (宗懍, khoảng 501-565) nhà Lương thời Nam Triều cũng cho rằng: “Khổng Tử sở dĩ dự bồi tân, nhất tuế chi xuất, thạnh ư thử tiết (孔子所以預陪賓、一歲之出、盛於此節, sở dĩ Khổng Tử chuẩn bị mọi thứ để tiếp khách, nội trong một năm, thịnh hành vào tiết nầy).” Về thời gian tiến hành cúng tế Lạp, từ thời nhà Chu trở đi, trải qua các thời đại đều quy định tháng 12, nhưng ngày nào thì trước thời nhà Tần vẫn chưa có ký lục cụ thể. Sau thời nhà Hán, chư vị hoàng đế của các triều đại, nương vào lý luận Ngũ Hành tương sanh, có định ra một ngày Tuất nào đó trong tháng 12, nhưng cũng chẳng thống nhất. Đến thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), vua Lương Võ Đế (梁武帝, tại vị 502-549) định Tiết Lạp Nhật (臘日節) là ngày mồng 8 tháng Chạp. Vì ông là người sùng tín Phật Giáo, ngày mồng 8 tháng Chạp cũng đúng vào dịp Phật thành đạo, nên ông kết hợp đồng thời cúng tế tổ tiên, thần linh và đức Phật. Trong Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (環溪惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1388) quyển Hạ có câu: “Lạp Nguyệt tận thị tuế trừ dạ, minh triêu hựu thị chánh nguyệt nhất, niên khứ niên lai vô tận kỳ (臘月盡是歲除夜、明朝又是正月一、年去年來無盡期, tháng Chạp hết là đêm cuối năm, sáng mai lại là mồng một Tết, xuân đến xuân đi vô cùng tận).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 33 có bài Tụng Cổ của Thiền Sư Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文, 1025-1102): “Lạp Nguyệt nhị thập ngũ, kỵ lư bất đả cổ, xuân phong bách thảo sanh, trũng thượng thiêm tân thổ (臘月二十五、騎驢不打鼓、春風百草生、塚上添新土, ngày hai lăm tháng Chạp, cỡi lừa không đánh trống, gió xuân trăm cỏ sinh, trên gò thêm đất mới).”
- Quý Đông (季冬): tên gọi tháng cuối cùng của tiết Đông, tức là tháng 12 Âm Lịch. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) có ghi rằng: “Quý Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, Hôn Lâu trung, Đán Đê trung (季冬之月、日在婺女、昏婁中、旦氐中, vào tháng cuối năm, mặt trời ở sao Vụ Nữ, buổi tối thì ở trong sao Lâu, buổi sáng sớm thì ở trong sao Đê).” Hay trong bài thơ Đầu Thánh Du (投聖俞) của Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống có câu: “Cửu cù Quý Đông nguyệt, phong sa chánh thảm độc (九衢季冬月、風沙正慘黷, khắp nẻo đường tháng Chạp, gió cát thật nhơ nhớp).” Trong Kính Sơn Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 có câu: “Quý Đông cực hàn, vạn mộc đoản tàn, duy hữu Mai hoa, thập phần thanh vận (季冬極寒、萬木短殘、惟有梅花、十分清韻, tháng Chạp băng hàn, cây cỏ điêu tàn, chỉ có hoa Mai, mười phần tươi xanh).” Trong bài Tặng Tường Cảnh Hưu Từ Chánh (贈祥景休嗣正) của Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) quyển 2 có đoạn: “Hy Ninh Quý Đông tiết, dạ tọa canh dĩ cửu, nguyệt sắc xạ song hộ, tùng phong minh cốc khẩu (熙寧季冬節、夜坐更已久、月色射窗戶、松風鳴谷口, Hy Ninh tiết tháng Chạp, đêm ngồi canh đã lâu, ánh trăng xuyên song cửa, gió tùng vang miệng khe).” Hoặc trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9 lại có đoạn: “Quý Đông hàn tiết, khứ lai vô biệt, thiên sơn vạn sơn, duy tích tàn tuyết, Thiền khách tương phùng, tương hà diễn thuyết, các thỉnh quy đường, tùy duyên điềm yết (季冬寒節、去來無別、千山萬山、唯積殘雪、禪客相逢、將何演說、各請歸堂、隨緣憩歇, cuối Đông lạnh tiết, đến đi chẳng khác, ngàn núi vạn núi, chỉ chất trắng tuyết, khách Thiền gặp nhau, lấy gì diễn thuyết, đều mời về phòng, tùy duyên nghỉ mệt).”
- Phù bôi (浮杯): (1) Vào thời cổ đại, cứ đúng ngày Tỵ của tuần đầu tháng 3 Âm Lịch, mọi người tập trung bên mương nước, trên đầu nguồn cho thả một chén rượu, mặc cho nó trôi đi, nếu chén ấy dừng trước mặt ai, thì người ấy phải lấy lên uống hết. Đó được gọi là phù bôi (chén trôi nổi), hay lưu thương (流觴, chén rượu trôi). Như trong bài thơ Thượng Tỵ Nhật Giản Nam Viên Kỳ Vương Sơn Nhân Trần Thất Gia Công Bất Chí (上巳日澗南園期王山人陳七諸公不至) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Thượng Tỵ kỳ tam nguyệt, phù bôi hứng thập tuần (上巳期三月、浮杯興十旬, đầu tháng ba ngày Tỵ, chén nổi suốt mười tuần).” Hay trong bài thơ Đáp Vô Nguyện Thượng Nhân Thư (答無願上人書) của Tế Kỉ (齊己, 863-937) thời Ngũ Đại cũng có câu: “Tất hữu Nam du sơn thủy hứng, Hán giang bình ổn hảo phù bôi (必有南游山水興、漢江平穩好浮杯, có hứng phương Nam chơi sơn thủy, Hán sông bình lặng rộn chén trôi).” (2) Phạt uống chén rượu đầy. Như trong bài Nhàn Cư Phú (閒居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Phù bôi lạc ẩm, ty trúc biền la (浮杯樂飲、絲竹騈羅, rượu phạt vui uống, tơ trúc kết liền).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 41 lại có câu: “Kim nhụy tùng tùng đới lộ tân, thải lai phanh mính thưởng giai thần, phù bôi hà tất tu nghi tửu, đản hữu thanh hương tự túy nhân (金蕊叢叢帶露新、采來烹茗賞佳辰、浮杯何必須宜酒、但有清香自醉人, vàng nhụy um tùm sương mới toanh, hái về trà nấu thưởng vị thơm, chén nổi đâu cần dùng rượu thật, chỉ có hương trong đủ say mèm).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 13, Tướng Quốc Bùi Hưu (裴休, 797-870) trình lên Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運, ?-?) ở Hồng Châu (洪州) bài kệ như sau: “Tự tùng Đại Sĩ truyền tâm ấn, ngạch hữu viên châu thất xích thân, quải tích thập niên thê Thục thủy, phù bôi kim nhật độ Chương Tân, nhất thiên long tượng tùy cao bộ, vạn lý hương hoa kết thắng nhân, nghĩ dục sự sư vi đệ tử, bất tri tương pháp phú hà nhân (自從大士傳心印、額有圓珠七尺身、掛錫十年棲蜀水、浮盃今日渡章濱、一千龍象隨高歩、萬里香花結勝因、擬欲事師爲弟子、不知將法付何人, từ khi Đại Sĩ truyền tâm ấn, trán có ngọc tròn bảy thước thân, dừng trượng mười năm nơi đất Thục, chén nổi ngày nay đến Chương Tân, một ngàn rồng tượng trên cao xuống, muôn dặm hương hoa kết duyên nhân, những muốn hầu thầy làm đệ tử, truyền pháp về ai được thêm gần).”
- Hoàng Chung (黃鐘, 黃鍾): âm thanh đầu tiên thuộc về Dương trong 12 Luật của âm nhạc được quy định từ thời xưa của Trung Quốc, và cũng là tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Âm nầy tương đương với âm Nhất Việt (壱越, ichikotsu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Trong A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa (阿彌陀經疏鈔事義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 425) có giải thích rõ rằng 6 âm thanh thuộc về Dương gồm Hoàng Chung (黃鍾), Thái Thốc (太簇), Cô Tẩy (姑洗), Nhuy Tân (蕤賓), Di Tắc (夷則) và Vô Xạ (無射); 6 âm thanh thuộc về Âm là Đại Lữ (大呂), Giáp Chung (夾鍾), Trọng Lữ (仲呂), Lâm Chung (林鐘), Nam Lữ (南呂) và Ưng Chung (應鍾). Từ đó có cụm từ Hoàng Chung hủy khí (黃鐘毀棄) ám chỉ người hiền bị bài xích, ruồng bỏ. Như trong bài Bốc Cư (卜居) của Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl) của nhà Sở thời Chiến Quốc có đoạn: “Hoàng Chung hủy khí, ngõa phữu lôi minh, sàm nhân cao trương, hiền sĩ vô danh (黃鐘毀棄、瓦缶雷鳴、讒人高張、賢士無名, Hoàng Chung đem bỏ, bụng rỗng kêu to, kẻ hèn lên mặt, người hiền không tên).” Hay trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍 tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 có câu: “Hoàng Chung thập nhất nguyệt luật, đắc Đông khí cố, ngưng âm băng đống (黃鐘十一月律、得冬氣故、凝陰冰凍, Hoàng Chung tháng Mười Một luật, vì có khí Đông, đất trời băng đóng).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích về Hoàng Chung rằng: “Hoàng Chung giả, thị âm dương chi trung, nhược thiên hữu Lục Khí, giáng vi Ngũ Vị, thiên hữu Lục Giáp, địa hữu Ngũ Tý, tổng thập nhất, nhi thiên địa chi số tất hỉ, cố dĩ lục vi trung. Hoàng Chung giả, thị Lục Luật chi thủ, cố dĩ Hoàng Chung vi danh. Hoàng giả, thổ chi sắc, dương khí tại địa trung, cố dĩ Hoàng vi xưng. Chung giả, động dã, tụ dã; dương khí tiềm động ư huỳnh tuyền, tụ dưỡng vạn vật, manh nha tương xuất, cố danh Hoàng Chung dã (黃鍾者、是陰陽之中、若天有六氣、降爲五味、天有六甲、地有五子、總十一、而天地之數畢矣、故以六爲中、黃鍾者、是六律之首、故以黃鍾爲名、黃者、土之色、陽氣在地中、故以黃爲稱、鍾者、動也、聚也、陽氣潛動於黃泉、聚養萬物、萌芽將出、故名黃鍾也, Hoàng Chung là ở trong âm dương, nếu trời có Sáu Khí, giáng xuống thành Năm Vị, trời có Sáu Giáp, đất có Năm Tý, tổng cọng là mười một, là đủ hết số của trời đất vậy, nên lấy số sáu làm chính. Hoàng Chung là đứng đầu trong Sáu Luật, nên lấy Hoàng Chung làm tên. Hoàng [màu vàng] là sắc màu của đất, khí dương ở trong đất, cho nên lấy màu vàng mà gọi tên. Chung nghĩa là động, là tích tụ; khí dương ngầm chuyển động dưới Suối Vàng, tích tụ và nuôi dưỡng vạn vật, mầm non sẽ nhú ra, nên có tên là Hoàng Chung vậy).”
- Tý Nguyệt (子月): tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Trong chương Thích Thiên (釋天) của Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích rằng: “Thập nhất nguyệt vi Cô (十一月爲辜, tháng Mười Một là Cô).” Học giả Hác Ý Hành (郝懿行, 1757-1825) nhà Thanh chú giải rằng: “Cổ giả, cố dã. Thập nhất nguyệt dương sanh, dục cách cố thủ tân dã; thập nguyệt kiến Hợi, Hợi giả căn cai dã; chí kiến Tý chi nguyệt, nhi tư tư nhiên sanh hỉ (辜者、故也、十一月陽生、欲革故取新也、十月建亥、亥者根荄也、至建子之月、而孳孳然生矣, Cô nghĩa là cố [cũ], tháng Mười Một sinh dương, muốn thay đổi thì phải giữ cái mới; tháng Mười là kiến Hợi [thuộc chi Hợi]; Hợi là rễ cây; đến tháng kiến Tý thì sinh nở nhiều ra).” Âm Lịch lấy tháng 11 thuộc về tháng Tý, tháng 12 là tháng Sửu, tháng Giêng là tháng Dần, tháng 2 là tháng Mão, tháng 3 là tháng Thìn, tháng 4 là tháng Tỵ, tháng 5 là tháng Ngọ, tháng 6 là tháng Mùi, tháng 7 là tháng Thân, tháng 8 là tháng Dậu, tháng 9 là tháng Tuất, tháng 10 là tháng Hợi. Mỗi năm, từ ngày Lập Xuân (立春) đến ngày Kinh Trập (驚蟄) là tháng Giêng, tức tháng Dần; từ Kinh Trập đến Thanh Minh (清明) là tháng 2, tức tháng Mão; từ Thanh Minh đến Lập Hạ (立夏) là tháng 3, tức tháng Thìn; từ Lập Hạ đến Mang Chủng (芒種) là tháng 4, tức tháng Tỵ; từ Mang Chủng đến Tiểu Thử (小暑) là tháng 5, tức tháng Ngọ; từ Tiểu Thử đến Lập Thu (立秋) là tháng 6, tức tháng Mùi; từ Lập Thu đến Bạch Lộ (白露) là tháng 7, tức tháng Thân; từ Bạch Lộ đến Hàn Lộ (寒露) là tháng 8, tức tháng Dậu; từ Hàn Lộ đến Lập Đông (立冬) là tháng 9, tức tháng Tuất; từ Lập Đông đến Đại Tuyết (大雪) là tháng 10, tức tháng Hợi; từ Đại Tuyết đến Tiểu Hàn (小寒) là tháng 11, tức tháng Tý; từ Tiểu Hàn đến Lập Xuân (立春) là tháng Chạp, tức tháng Sửu. Trong bài thơ Hàn Viên Tức Mục (寒園卽目) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Tý nguyệt tuyền tâm động, Dương hào địa khí thư (子月泉心動、陽爻地氣舒, tháng Tý lòng suối động, hào Dương đất trời mở).” Hay trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 29 có đoạn: “Hồ Châu Phủ Thiên Trí Nguyệt Tuyền Ngọc Chi Pháp Tụ Thiền Sư, Gia Hòa Phú thị tử, mẫu Phùng, sanh Hoằng Trị Nhâm Tý Tý nguyệt hối nhật (湖州府天池月泉玉芝法聚禪師、嘉禾富氏子、母馮、生弘治壬子子月晦日, Thiền Sư Ngọc Chi Pháp Tụ ở Nguyệt Tuyền, Thiên Trì, Phủ Hồ Châu, con nhà họ Phú ở Gia Hòa, mẹ họ Phùng; ông sanh vào ngày cuối tháng 11 năm Nhâm Tý [1492] niên hiệu Hoằng Trị nhà Minh).”
- Đại Lữ (大呂): (1) Tên gọi âm thanh thứ nhất trong 6 loại âm thanh thuộc về Âm, có hình dung âm nhạc hoặc ngôn từ trang nghiêm, chính đại, cao diệu, hài hòa. Âm nầy tương đương với âm Đoạn Kim (斷金, dangin) trong 12 âm luật của Nhật Bản, cao hơn Hoàng Chung (黃鐘) một luật. Như trong chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) của Chu Lễ (周禮) có câu: “Nãi tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, vũ Vân Môn, dĩ tự thiên thần (乃奏黃鐘、歌大呂、舞雲門、以祀天神, bèn tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, múa khúc Vân Môn, để tế thiên thần).” (2) Tên gọi khác của tháng 12 Âm Lịch. Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích về Đại Lữ rằng: “Sửu vi Đại Lữ, thập nhị nguyệt chi thần danh Sửu; Sửu giả, nữu dã; ngôn cư chung thỉ chi tế, cố dĩ Sửu vi danh (丑爲大呂、十二月之辰名丑、丑者、紐也、言居終始之際、故以丑爲名, Sửu là Đại Lữ, chi của tháng Mười Hai là Sửu; Sửu là nữu [buộc, thắt], nghĩa là sống tận cùng từ đầu đến đuôi, nên lấy Sửu làm tên).” Trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 4 có đoạn: “Viên hữu trung Thiên Trúc quốc Tam Tạng Pháp Sư, bổn Sát Lợi vương chủng tánh, Sát Lợi đế danh Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Đường ngôn tác Minh Tri Thức, viễn văn Đường quốc hoằng xiển Đại Thừa, cố thiệp Thông hà lai du Thánh thế, dĩ Trinh Quán nguyên niên Đại Lữ chi nguyệt, cung tê Phạn bản đạt hồ thượng kinh (爰有中天竺國三藏法師、本剎利王種姓、剎利帝名波羅頗迦羅密多羅、唐言作明知識、遠聞唐國弘闡大乘、故涉蔥河來遊聖世、以貞觀元年大呂之月、躬齎梵本達乎上京, bèn có Tam Tạng Pháp Sư nước Thiên Trúc [Ấn Độ], vốn dòng họ vua Sát Đế Lợi, vua Sát Đế Lợi tên là Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Tàu gọi là Minh Tri Thức, xa nghe nhà Đường xiển dương Đại Thừa rộng khắp, nên vượt qua sông Thông mà đến giao du với nhà vua; vào tháng Chạp năm đầu [627] niên hiệu Trinh Quán, cung kính mang các bản kinh tiếng Phạn lên kinh đô).”
- Thái Thốc (太簇、太蔟、泰簇): còn gọi là Thái Tộc (太族、泰族), Đại Tộc (大族), Đại Thốc (大蔟). (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Bình Điệu (平調, hyōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong chương Thời Tắc Huấn (時則訓) của Hoài Nam Tử (淮南子) có giải thích rằng: “Luật trung Thái Thốc, kỳ số bát (律中太蔟、其數八, âm Thái Thốc trong các luật âm, số của nó là 8).” Trong tác phẩm Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh còn giải thích thêm: “Thái Thốc trường bát thốn, tích lục bách tứ thập bát phần (太簇長八寸、積六百四十八分, Thái Thốc dài tám tấc, chứa 648 phân).” (2) Người xưa lấy 12 âm luật phối hợp với 12 tháng trong năm; Thái Thốc được phối hợp với tháng Giêng; nên đây là tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), chương Âm Luật (音律) có câu: “Thái Thốc chi nguyệt, dương khí thỉ sanh, thảo mộc phồn động (太蔟之月、陽氣始生、草木繁動, tháng Thái Thốc, khí dương bắt đầu sinh, cỏ cây nảy nở nhiều).” Cao Dụ (高誘, ?-?) nhà Đông Hán (東漢, 25-220) chú thích rằng: “Thái Thốc, chánh nguyệt (太蔟、正月, Thái Thốc là tháng Giêng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng cho biết rằng: “Chánh nguyệt kiến Dần, viết Nhiếp Đề Cách, hựu viết Thái Thốc, hựu viết Mạnh Tưu (正月建寅、曰攝提格、又曰太簇、又曰孟陬, tháng Giêng kiến Dần, gọi là Nhiếp Đề Cách, lại có tên là Thái Thốc, hay gọi là Mạnh Tưu).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích thêm về Thái Thốc rằng: “Dần vi Thái Thốc, Chánh nguyệt chi thần danh Dần; Dần giả, tân dã; Tân giả đồ chi nghĩa; Chánh nguyệt chi thời, sanh vạn vật chi tân đồ, cố vị chi Dần (寅爲太蔟、正月之辰名寅、寅者、津也、津者塗之義、正月之時、生萬物之津塗、故謂之寅, Dần là Thái Thốc, chi của tháng Giêng là Dần; Dần là tân; tân nghĩa là con đường; vào dịp tháng Giêng, mở ra con đường cho vạn vật, nên gọi đó là Dần).” Hay trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) quyển 1 có câu: “Đạo Quang lục niên nguyệt tại Thái Thốc nhân nhật Bí Sô Ni Ngộ Đức Thông Viên thư ư Hiếu Viên Am chi Ma Ha Diễn Thất (道光六年月在太簇人日苾芻尼悟德通圓書於孝圓菴之摩訶衍室, ngày mồng 7 tháng Giêng năm thứ 6 [1826] niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, Tỳ Kheo Ni Ngộ Đức Thông Viên viết tại Ma Ha Diễn Thất của Hiếu Viên Am).”
- Giáp Chung (夾鍾): (1) Tên gọi âm thứ 2 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Thắng Tuyệt (勝絶, shōzetsu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Tên gọi khác của tháng 2 Âm Lịch. Như trong Lã Thị Xuân Thu (吕氏春秋) quyển 6 của Lã Bất Vi (呂不韋, 290ttl-235ttl) có đoạn: “Giáp Chung chi nguyệt, khoan dụ hòa bình, hành đức khử hình, vô hoặc tác sự, dĩ hại quần sinh (夾鐘之月、寬裕和平、行德去刑、無或作事、以害群生, tháng Hai là tháng khoan dung, hòa bình, thực hành nhân đức, bỏ hình phạt, không nên làm việc, tác hại quần sinh).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích rõ về Giáp Chung rằng: “Mão vi Giáp Chung, nhị nguyệt chi thần danh vi Mão; Mão giả, mậu dã; ngôn dương khí chí thử, vật sanh tư mậu dã, cố vị chi Mão (卯爲夾鍾、二月之辰名爲卯、卯者、茂也、言陽氣至此、物生孳茂也、故謂之卯, Mão là Giáp Chung, chi của tháng Hai là Mão; Mão là mậu [tươi tốt], nghĩa là khí dương đến tháng nầy, muôn vật sinh nở tươi tốt, nên gọi nó là Mão).” Trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 lại có câu: “Giáp Chung nhị nguyệt luật, do đắc Xuân khí, thảo mộc vinh hoa (夾鐘二月律、由得春氣、草木榮華, Giáp Chung tháng Hai luật, do có khí Xuân, cỏ cây tươi tốt).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 lại giải thích rằng: “Nhị nguyệt kiến Mão, viết Đan Át, hựu viết Giáp Chung, hựu vân Trọng Xuân, hựu xưng Phương Xuân (二月建卯、曰單閼、又曰夾鐘、又云仲春、又稱芳春, tháng Hai kiến Mão, gọi là Đan Át, hay còn gọi là Giáp Chung, lại có tên là Trọng Xuân, hay gọi là Phương Xuân).”
- Cô Tẩy (姑洗): (1) Tên gọi âm thứ 3 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Hạ Vô (下無, shimomu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chấn Trạch Trường Ngữ (震澤長語), chương Âm Luật (音律) giải thích rằng: “Nam Lữ vi Vũ, Cô Tẩy vi Giốc (南呂爲羽、姑洗爲角, Nam Lữ là cung Vũ, Cô Tẩy là cung Giốc).” (2) Chỉ tháng Ba Âm Lịch. Như trong tác phẩm Bạch Hổ Thông (白虎通), chương Ngũ Hành (五行) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có ghi rõ rằng: “Tam nguyệt vị chi Cô Tẩy hà ? Cô giả cố dã; Tẩy giả tiên dã; ngôn vạn vật giai khử cố tự kỳ tân, mạc bất tiên minh dã (三月謂之姑洗何、姑者故也、洗者鮮也、言萬物皆去故就其新、莫不鮮明也, tháng Ba gọi là Cô Tẩy, vì sao ? Cô nghĩa là cũ, Tẩy nghĩa là mới; tức là vạn vật đều bỏ cái cũ mà đón cái mới, chẳng có gì mà không mới mẻ cả).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết rằng: “Thìn vi Cô Tẩy, tam nguyệt chi thần danh Thìn, Thìn giả chấn động chi nghĩa, thử nguyệt vật giai chấn động nhi trưởng, cố vị chi Thìn (辰爲姑洗、三月之辰名辰、辰者震動之義、此月物皆震動而長、故謂之辰, Thìn là Cô Tẩy, chi của tháng Ba là Thìn; Thìn có nghĩa là chấn động; tháng nầy muôn vật chuyển động mà lớn lên, nên gọi nó là Thìn).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 cũng có giải thích thêm rằng: “Tam nguyệt kiến Thìn, hựu viết Cô Tẩy, hựu viết Mạc Xuân, viết Vãn Xuân, viết Diểu Xuân, hựu xưng Túc Nguyệt (三月建辰、又曰姑洗、又曰莫春、曰晚春、曰杪春、又稱宿月, tháng Ba kiến Thìn, lại gọi là Cô Tẩy, là Mạc Xuân, còn gọi là Vãn Xuân, là Diểu Xuân, còn có tên là Túc Nguyệt).” Hay trong Thích Thị Kê Cổ Lược (釋氏稽古略, Taishō Vol. 49, No. 2037) quyển 1 có câu: “Đại Minh Gia Tĩnh Quý Sửu tuế Cô Tẩy nguyệt Giáp Thân nhật Cú Khúc Thiên Vương Tự hậu học Sa Môn Xương Phục trùng san (大明嘉靖癸丑歲姑洗月甲申日句曲天王寺後學沙門昌腹重刊, hậu học Sa Môn Xương Phục khắc bản lại tại Thiên Vương Tự ở Cú Khúc, ngày Giáp Thân tháng Ba năm Quý Sửu [1553] niên hiệu Gia Tĩnh nhà Đại Minh).”
- Trọng Lữ (仲呂): còn gọi là Trung Lữ (中呂), Tiểu Lữ (小呂). (1) Tên gọi âm thứ 3 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Song Điệu (雙調, sōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Chỉ tháng Tư Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Tứ nguyệt kiến Tỵ, viết Đại Hoang Lạc, hựu viết Trọng Lữ, diệc danh Mạch Thu, hựu xưng Thanh Hòa, diệc danh Quỳ Nguyệt, hựu xưng Mạnh Hạ Sơ Hạ đẳng (四月建巳、曰大荒落、又曰仲呂、亦名麥秋、又稱清和、亦名葵月、又稱孟夏初夏等, tháng Tư kiến Tỵ, gọi là Đại Hoang Lạc, lại gọi là Trọng Lữ, cũng có tên là Mạch Thu, hay là Thanh Hòa, cũng được gọi là Quỳ Nguyệt, lại có tên Mạnh Hạ, Sơ Hạ, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết thêm rằng: “Tỵ vi Trung Lữ, tứ nguyệt chi thần danh Tỵ; Tỵ giả, khởi dã; vật chí thử thời giai trưởng nhi khởi dã, cố vị chi Tỵ (巳爲中呂、四月之辰名巳、巳者、起也、物至此時皆長而起也、故謂之巳, Tỵ là Trung Lữ, chi của tháng Tư là Tỵ; Tỵ là khởi [vươn dậy]; muôn vật đến lúc nầy sinh trưởng mà vươn dậy, nên gọi nó là Tỵ).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ Khoa Văn (法華經指掌疏科文, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 629) có câu: “Thời Càn Long tuế tại Nhu Triệu Nhiếp Đề Cách Trọng Lữ Phật Đản nhật, Hiền Tông hậu học Thông Lý cẩn thức (時乾隆歲在柔兆攝提格仲呂佛誕日、賢宗後學通理謹識, lúc bấy giờ nhằm ngày Phật Đản tháng Trọng Lữ [mồng 8 tháng Tư] năm Bính Dần [1746] đời vua Càn Long, Hiền Tông hậu học Thông Lý kính ghi).”
- Nhuy Tân (蕤賓): (1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Phù Chung (鳧鐘, fushō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Nhuy Tân, ca Hàm Chung, vũ Đại Hạ, dĩ tế sơn xuyên (乃奏蕤賓、歌函鐘、舞大夏、以祭山川, bèn tấu điệu Nhuy Tân, ca khúc Hàm Chung, múa điệu Đại Hạ, để tế núi sông).” (2) Tên gọi khác của tháng 5 Âm Lịch. Như trong bài Hòa Hồ Tây Tào Thị Cố Phú Tào (和胡西曹示顧賊曹) của Đào Tiềm (陶潛, tức Đào Uyên Minh [陶淵明], khoảng 365-427) nhà Tấn có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt trung, thanh triêu khởi Nam ti, bất sử diệc bất trì, phiêu phiêu xuy ngã y (蕤賓五月中、清朝起南颸、不駛亦不遲、飄飄吹我衣, Nhuy Tân giữa tháng Năm, sáng trong dậy gió Nam, chẳng nhanh cũng chẳng chậm, thổi áo ta bềnh bồng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Ngũ nguyệt kiến Ngọ viết Đôn Tang, hựu viết Nhuy Tân, hoặc danh Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, hựu xưng Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt đẳng (五月建午曰敦牂、又曰蕤賓、或名天中節、或脩月、又稱皋月、蒲月、艾月、榴月等, tháng Năm kiến Ngọ gọi là Đôn Tang, hay gọi là Nhuy Tân, hoặc có tên Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, còn gọi là Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết thêm về Nhuy Tân rằng: “Ngọ vi Nhuy Tân, ngũ nguyệt chi thần danh Ngọ; Ngọ giả, trưởng dã; minh vật giai trưởng đại, cố vị chi Ngọ (午爲蕤賓、五月之辰名午、午者、長也、明物皆長大、故謂之午, Ngọ là Nhuy Tân, chi của tháng Năm là Ngọ; Ngọ là trưởng [phát triển], nghĩa là muôn vật đều phát triển to lớn, nên gọi nó là Ngọ).” (3) Chỉ tiết Đoan Ngọ vào tháng 5 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Toàn Nguyên Tán Khúc (全元散曲), chương Nghênh Tiên Khách (迎仙客), Ngũ Nguyệt (五月) của Tùy Thọ Sum (隋樹森, 1906-1989) có câu: “Kết ngải nhân, khánh Nhuy Tân, Xương Bồ tửu hương khai ngọc tôn (結艾人、慶蕤賓、菖蒲酒香開玉樽, bện người ngải [trừ tà], vui khúc Nhuy Tân, hương rượu Xương Bồ thơm phức chén ngọc).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳) hồi thứ 13 của có đoạn: “Thời phùng Đoan Ngọ, Nhuy Tân tiết chí, Lương Trung Thư dữ Thái Phu Nhân tại hậu đường gia yến, khánh hạ Đoan Dương (時逢端午、蕤賓節至、梁中書與蔡夫人在後堂家宴、慶賀端陽, gặp dịp Đoan Ngọ, tiết tháng 5 đến, Lương Trung Thư cùng Thái Phu Nhân ở nhà sau vui yến tiệc gia đình, để chúc mừng tiết Đoan Dương).” Trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt luật, đắc Hạ khí cố, kiên băng tiêu tán (蕤賓五月律、得夏氣故、堅冰消散, Nhuy Tân luật tháng Năm, vì có khí Hè, băng cứng tiêu tan).” Hay trong bài Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục Tự (智門祚禪師語錄序) của Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 39 có đoạn: “Thời Tân Mùi tuế Nhuy Tân nguyệt chi ngũ nhật, môn nhân trú Minh Châu Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự Minh Giác Đại Sư Tứ Tử Trùng Hiển tự (時辛未歲蕤賓月之五日、門人住明州雪竇山資聖寺明覺大師賜紫重顯序, lúc bấy giờ vào ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mùi [1031], môn nhân Minh Giác Đại Sư hiệu Tứ Tử Trùng Hiển [tức Tuyết Đậu Trùng Hiển] ở Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự vùng Minh Châu, ghi lời tựa).”
- Lâm Chung (林鐘、林鍾): (1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Hoàng Chung (黃鐘, ōshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Sử Ký (史記), chương Luật Thư (律書) thứ 3 giải thích rằng: “Lâm Chung giả, ngôn vạn vật tựu tử, khí lâm lâm nhiên (林鍾者、言萬物就死、氣林林然, Lâm Chung nghĩa là vạn vật sắp chết, khí đông đúc như vậy).” Trong bài Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh có câu: “Lâm Chung trường lục thốn, tích tứ bách bát thập lục phân (林鍾長六寸、積四百八十六分, Lâm Chung dài 7 tấc, chứa 486 phân).” (2) Tên gọi khác của tháng 6 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Bạch Hổ Thông (白虎通), chương Ngũ Hành (五行) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có ghi rõ rằng: “Lục nguyệt vị chi Lâm Chung hà ? Lâm giả, chúng dã; vạn vật thành thục, chủng loại chúng đa (六月謂之林鍾何、林者、眾也、萬物成熟、種類眾多, tháng Sáu gọi là Lâm Chung, vì sao ? Lâm nghĩa là chúng [số nhiều]; vạn vật thành thục, chủng loại rất nhiều).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Lâm Chung rằng: “Mùi vi Lâm Chung, lục nguyệt chi thần danh Mùi; Mùi giả, vị dã; ngôn thời vật hướng thành, giai hữu khí vị, cố vị chi Mùi (未爲林鍾、六月之辰名未、未者、味也、言時物向成、皆有氣味、故謂之未, Mùi là Lâm Chung, chi của tháng Sáu tên Mùi; Mùi nghĩa là vị [mùi vị]; nghĩa là muôn vật đã trưởng thành, đều có khí vị, nên gọi nó là Mùi).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 còn giải thích rằng: “Lục nguyệt kiến Mùi viết Hiệp Hợp, hựu viết Lâm Chung, hựu hiệu xưng Thả Nguyệt, Hà Nguyệt (六月建未曰協洽、又曰林鍾、又號稱且月、荷月, tháng Sáu kiến Mùi, gọi là Hiệp Hợp, còn gọi là Lâm Chung, lại có tên là Thả Nguyệt, Hà Nguyệt).” Trong Kim Cang Kinh Đại Ý (金剛經大意, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 484) có câu “Lâm Chung nguyệt Đại Sĩ Thành Đạo nhật Vương Khởi Long cẩn thức (林鍾月大士成道日王起隆謹識, Vương Khởi Long kính ghi vào ngày Đại Sĩ Thành Đạo, tháng Sáu).”
- Di Tắc (夷則): (1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Loan Kính (鸞敬, rankei) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Quốc Ngữ (國語), chương Chu Ngữ Hạ (週語下) có ghi rằng: “Ngũ viết Di Tắc, sở dĩ vịnh ca cửu tắc, bình dân vô nhị dã (五曰夷則、所以詠歌九則、平民無貳也, thứ năm là Di Tắc, sở dĩ vịnh ca chín tắc, vì dân thường không có hai vậy).” Vi Chiêu (韋昭, 204-273) chú giải rằng: “Di, bình dã; Tắc, pháp dã; ngôn vạn vật ký thành, khả pháp tắc dã (夷、平也、則、法也、言萬物旣成、可法則也, Di là bình [bình ổn], Tắc là pháp [phép tắc]; có nghĩa là vạn vật đã hình thành, có thể tuân theo phép tắc vậy).” (2) Tên gọi khác của tháng 7 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Thất nguyệt kiến Thân viết Thôn Than, hựu viết Di Tắc, diệc danh Mạnh Thu, hựu xưng Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt đẳng (七月建申曰涒灘、又曰夷則、亦名孟秋、又稱相月、巧月等, tháng Bảy kiến Thân, gọi là Thôn Than, còn gọi là Di Tắc, cũng có tên là Mạnh Thu, hoặc gọi là Tương Nguyệt, Xảo Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Di Tắc rằng: “Thân vi Di Tắc, thất nguyệt chi thần danh Thân; Thân giả, thân dã; ngôn vạn vật giai thân thể nhi thành tựu, cố danh vi Thân (申爲夷則、七月之辰名申、申者、身也、言萬物皆身體而成就、故名爲申, Thân là Di Tắc, chi của tháng Bảy là Thân; Thân là thân [thân thể]; nghĩa là vạn vật đều nhờ thân thể mà thành tựu, nên có tên là Thân).” Trong Đại Sử Chú Pháp Kinh (大使咒法經, Taishō Vol. 21, No. 1268) có câu: “Thời Bảo Lịch tứ Giáp Tuất Thu Di Tắc trung hoán (時寶曆四甲戌秋夷則中浣, lúc bấy giờ là trung tuần tháng 7 mùa Thu năm Giáp Tuất [1754], niên hiệu Bảo Lịch thứ 4).” Hay trong Viên Tông Văn Loại (圓宗文類, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1015) quyển 22 cũng có câu: “Thời Bảo Vĩnh thất niên tải thứ Canh Dần Di Tắc cửu nhật Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh (時寶永七年載次庚寅夷則九日四聖坊法印晉性, lúc bấy giờ là ngày mồng 9 tháng 7 năm Canh Dần [1710] niên hiệu Bảo Vĩnh thứ 7, Tứ Thánh Phường Pháp Ấn Tấn Tánh).”
- Nam Lữ (南呂): (1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Bàn Thiệp (盤涉, banshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có câu: “Tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, tấu Cô Tẩy, ca Nam Lữ, tấu Di Tắc, ca Tiểu Lữ(奏黃鐘、歌大呂、奏姑洗、歌南呂、奏夷則、歌小呂, tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, tấu điệu Cô Tẩy, ca điệu Nam Lữ, tấu điệu Di Tắc, ca điệu Tiểu Lữ).” (2) Tên gọi khác của tháng 8 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Bát nguyệt kiến Dậu viết Tác Ngạc, hựu viết Nam Lữ, hoặc danh Thanh Thu, hựu xưng Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt đẳng (八月建酉曰作噩、又曰南呂、或名清秋、又稱壯月、桂月等, tháng Tám kiến Dậu, gọi là Tác Ngạc, hay gọi là Nam Lữ, hoặc có tên là Thanh Thu, còn gọi là Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Dậu vi Nam Lữ, bát nguyệt chi thần danh Dậu; Dậu giả thu súc chi nghĩa; thử nguyệt thời vật giai súc tiểu nhi thành dã, cố vị chi Dậu (酉爲南呂、八月之辰名酉、酉者緧縮之義、此月時物皆縮小而成也、故謂之酉, Dậu là Nam Lữ, chi của tháng Tám là Dậu; Dậu có nghĩa là thu nhỏ lại; vào tháng nầy muôn vật đều thu nhỏ lại mà thành, nên gọi nó là Dậu).” Trong Chiết Nghi Luận (折疑論, Taishō Vol. 52, No. 2118) quyển 4 có câu: “Khấu Thương huyền dĩ chiêu Nam Lữ bát nguyệt chi lịnh, lương phong hốt chí, thảo mộc thành thật (扣商絃以召南呂八月之令、涼風忽至、草木成實, gõ dây Thương để mời lịnh tháng Tám Nam Lữ, gió mát chợt đến, cỏ cây kết trái).” Hay trong Kim Cang Sớ Khoa Thích (金剛疏科釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 466) cũng có câu: “Thời Ứng Vĩnh thập cửu niên long tập Nhâm Thìn Nam Lữ hạ cán cát nhật ngụ Long Hoa Phạm Phương cẩn thư (時應永十九年龍集壬辰南呂下澣吉日寓龍華梵芳謹書, lúc bấy giờ là ngày tốt hạ tuần tháng 8 năm Nhâm Thìn [1412], niên hiệu Ứng Vĩnh thứ 19, Phạn Phương ở Long Hoa kính ghi).”
- Vô Xạ (無射): (1) Tên gọi âm thứ 6 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Thần Tiên (神仙, shinsen) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Vô Xạ, ca Giáp Chung, vũ Đại Võ, dĩ hưởng tiên tổ (乃奏無射、歌夾鍾、舞大武、以享先祖, bèn tấu điệu Vô Xạ, ca điệu Giáp Chung, vũ khúc Đại Võ, để dâng cúng tổ tiên).” Hay trong bài thơ Cửu Nhật Bồi Đăng Cao (九日陪登高) của Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường có câu: “Trùng Dương sơ khải tiết, Vô Xạ chánh phi hôi (重陽初啟節、無射正飛灰, Trùng Dương tiết mới đến, Vô Xạ đúng tro bay).” (2) Tên gọi khác của tháng 9 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Cửu nguyệt kiến Tuất viết Yêm Mậu, hựu viết Vô Xạ, hoặc danh Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; hựu xưng Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt đẳng (九月建戌曰閹茂、又曰無射、或名季秋、暮秋、深秋、杪秋、又稱元月、菊月等, tháng Chín kiến Tuất, gọi là Yêm Mậu, hay gọi là Vô Xạ, hoặc gọi là Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; lại có tên là Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Tuất vi Vô Xạ, cửu nguyệt chi thần danh Tuất; Tuất giả, diệt dã; ngôn thời suy diệt dã, cố vị chi Tuất (戌爲無射、九月之辰名戌、戌者、滅也、言時衰滅也、故謂之戌, Tuất là Vô Xạ, chi của tháng Chín là Tuất; Tuất là diệt [mất, hết]; có nghĩa là suy diệt, nên gọi nó là Tuất).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) có câu: “Thời Trinh Hanh ngũ niên Vô Xạ nguyệt sóc nhật Chi Na từ tổ Sa Môn Cao Tuyền Tánh Đôn kính đề ư Phật Quốc Phương Trượng (時貞亨五年無射月朔日支那嗣祖沙門高泉性潡敬題於佛國方丈, lúc bấy giờ nhằm ngày mồng 1 tháng 9 năm thứ 5 [1688] niên hiệu Trinh Hanh, Sa Môn kế thừa dòng pháp ở Trung Hoa là Cao Tuyền Tánh Đôn kính ghi ở Phật Quốc Phương Trượng).” Hoặc trong Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 1 có câu: “Vĩnh Nhân Quý Tỵ Vô Xạ thượng tuần đầu Quảng Long Tự chúng đồ chi tịnh tài điêu Nghĩa Sớ đệ nhất quyển chi ấn bản (永仁癸已無射上旬投廣隆寺眾徒之淨財彫義疏第一卷之印板, vào thượng tuần tháng 9 năm Quý Tỵ [1293] niên hiệu Vĩnh Nhân, dốc hết tịnh tài của tăng chúng Quảng Long Tự để khắc ấn bản Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển thứ nhất).”
- Ưng Chung (應鍾、應鍾): (1) Tên gọi âm thứ 6 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Thượng Vô (上無, kamimu) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Tên gọi khác của tháng 10 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Thập nguyệt kiến Hợi viết Đại Uyên Hiến, hựu viết Ưng Chung, hoặc danh Mạnh Đông, Khai Đông, Tiểu Xuân; diệc danh Dương Nguyệt, Lương Nguyệt đẳng (十月建亥日大淵獻、又曰應鐘、或名孟冬、開冬、小春、亦稱陽月、良月等, tháng Mười kiến Hợi, gọi là Đại Uyên Hiến, còn gọi là Ưng Chung, hoặc gọi là Mạnh Đông, Khai Đông, Tiểu Xuân; cũng có tên là Dương Nguyệt, Lương Nguyệt, v.v.).” Hay trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Hợi vi Ưng Chung, thập nguyệt chi thần danh Hợi; Hợi giả, hặc dã; ngôn âm dương khí hặc sát vạn vật, cố vị chi Hợi (亥爲應鍾、十月之辰名亥、亥者、劾也、言陰陽氣劾殺萬物、故謂之亥, Hợi là Ưng Chung, chi của tháng Mười là Hợi; Hợi là hặc [hạch sách]; có nghĩa là khí âm dương hạch sách [làm khó] vạn vật, nên gọi nó là Hợi).”
Lãn nạp (懶衲): vị tu sĩ lười biếng (nghĩa đen). Từ nạp (衲) ở đây có nghĩa là áo được ghép lại từ nhiều mảnh vải vụn. Như trong bài Tặng Tăng Tự Viễn Thiền Sư (贈僧自遠禪師) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Tự xuất gia lai trường tự tại, duyên thân nhất nạp nhất thằng hưu (自出家來長自在、緣身一衲一繩休, tự xuất gia nay luôn tự tại, suốt đời một dây một áo thôi).” Từ đó, áo của người tu sĩ được gọi là nạp y (衲衣). Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 4 có câu: “Nhất lãnh nạp y Đông hựu Hạ, nhiệt lai thoát khước lãnh lai xuyên (一領衲衣冬又夏、熱來脫卻冷來穿, một mảnh nạp y Đông lại Hạ, nóng thì cởi bỏ lạnh mặc vào).” Cho nên, nạp cũng là tiếng tự xưng của vị tu sĩ, có nghĩa là người thường mặc áo có ghép nhiều mảnh vải vụn. Một số từ thường dùng như lão nạp (老衲), nạp tăng (衲僧), nạp tử (衲子), bá nạp (百納), v.v. Như trong bài thơ Đề Hoành Sơn Tự (題橫山寺) của Đái Thúc Luân (戴叔倫, 732-789) nhà Đường có câu: “Lão nạp cúng trà oản, tà dương tống khách thuyền (老衲供茶碗、斜陽送客舟, lão nạp dâng trà chén, chiều tà tiễn khách thuyền).” Hay trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 23 có đoạn: “Cử túc hạ túc giai thị đạo tràng, động tĩnh khứ lai vô phi Phật sự, nhược ư nạp tăng môn hạ, nhất ngôn tương khế, thiên địa huyền thù (舉足下足皆是道塲、動靜去來無非佛事、若於衲僧門下、一言相契、天地懸殊, nâng chân hạ chân đều là đạo tràng, động tĩnh đến đi thảy là Phật sự, nếu trong môn hạ nạp tăng, một lời khế hợp, trời đất sai khác).” Trong bài thơ Thu Nhật Ức Lan Thượng Nhân (秋日憶暕上人) của Lý Đoan (李端, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Vũ tiền phùng bá nạp, diệp hạ bế trùng quan (雨前縫百衲、葉下閉重關, trước mưa khâu bá nạp, dưới lá đóng cửa Thiền).” Hay trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cái Tăng (丐僧) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có diễn tả rằng: “Tế Nam nhất tăng, bất tri hà hứa nhân, xích túc y bá nạp (濟南一僧、不知何許人、赤足衣百衲, có một vị tăng ở Tế Nam, chẳng biết người vùng nào, đi chân không và mang áo bá nạp).” Trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 5 có câu: “Vi chủ giả thảng tồn nhân nghĩa, cảm thập phương nạp tử chi vân trăn, nhược nãi tư thọ nhân tình, chiêu thiên lí ố danh chi viễn bá (爲主者倘存仁義、感十方衲子之雲臻、若乃私受人情、招千里惡名之遠播, làm người chủ nếu còn nhân nghĩa, cảm mười phương tăng chúng thảy quay về, nếu thọ nhân tình riêng tư, mang ngàn dặm tiếng xấu đi truyền bá).” Như vậy, lãn nạp ở đây là từ tự xưng rất khiêm tốn; như Thiền Sư Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) của Nhật Bản có bút hiệu là Cuồng Vân Lãn Nạp (狂雲懶衲). Trong Lâm Gian Lục Hậu Tập (林間錄後集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1625) có câu: “Y phó tiểu nhi, đạo truyền lãn nạp, nãi nhĩ tương vi, cầu nhân vị pháp (衣付小兒、道傳懶衲、乃爾相違、求人爲法, y trao trẻ nhỏ, đạo truyền thầy lười, như vậy sai khác, tìm người vì đạo).” Hay trong Lô Sơn Thiên Nhiên Thiền Sư Ngữ Lục (廬山天然禪師語錄) quyển 15 có câu: “Vị liễu nhân duyên kim thượng tại, vô năng lãn nạp phó nhàn miên (未了因緣今尚在、無能懶衲付間眠, chưa rõ nhân duyên nay lại có, lão tăng phó mặc ngủ an nhàn).”